NGÀNH CNTT TUYỂN SINH NHIỀU CHỈ TIÊU NGÀNH CNTT, CNTT VIỆT NHẬT VÀ KHOA HỌC DỮ LIỆU

Tin Tức Khác

Bốn món cháo Việt lọt top 100 món cháo ngon nhất thế giới

on .

(SGTT) - Cháo lòng, cháo bò, cháo vịt và cháo gà là bốn món cháo Việt vừa được bình chọn trong danh sách 100 món cháo ngon nhất thế giới.

Theo đó, cẩm nang ẩm thực quốc tế Taste Atlas đánh giá cao các món cháo Việt bởi sự đa dạng về nguyên liệu, công phu về cách chế biến cũng như sự tinh tế trong thành phẩm món ăn. Cháo lòng xếp ở vị trí 17, tiếp đến là cháo bò ở vị trí 58, cháo vịt ở vị trí 76 và cuối cùng là món cháo gà ở vị trí 91 trong bảng xếp hạng. Đứng đầu danh sách là món Bubur ayam của người Indonesia.

Cháo lòng là món ăn có mặt ở khắp mọi miền đất nước, từ những gánh hàng rong vỉa hè, quán nhỏ bên đường cho đến các hàng quán lâu năm có tiếng. Tuy hình thức và cách nấu có thể biến đổi tùy theo vùng miền, nhưng cốt lõi của cháo lòng vẫn là sự hòa quyện đậm đà giữa cháo ninh nhừ và các loại lòng heo được sơ chế cẩn thận.

Một tô cháo lòng đúng điệu thường gồm cháo nấu từ gạo tẻ rang sơ, có nơi trộn thêm chút nếp để tăng độ sánh mịn, được hầm cùng nước luộc lòng, nước hầm xương hoặc tiết heo để tạo nên vị ngọt thanh đặc trưng. Lòng là thành phần chính có thể bao gồm tim, gan, cật, dồi, phèo, cuống họng… tất cả đều được làm sạch, luộc chín tới để giữ độ giòn, mềm, không dai mà cũng không bở. Dồi thường được nhồi bằng tiết, mỡ, đậu xanh, đậu phộng hoặc rau răm, mỗi quán mỗi bí quyết riêng tạo nên sự riêng biệt.

Gia vị ăn kèm cháo lòng là phần không thể thiếu: ít hành lá, tiêu xay, gừng thái chỉ, giọt mắm nguyên chất, vài lát ớt tươi. Một số nơi còn cho thêm quẩy giòn, tỏi phi hay rau thơm để tăng hương vị. Ở miền Bắc, cháo thường loãng hơn, ăn thanh nhẹ; trong khi miền Nam lại chuộng cháo sánh đặc, ăn kèm mắm tôm và rau sống.

Cháo bò không phổ biến như cháo gà hay cháo lòng, nhưng ở những nơi như Tây Nguyên, Bình Định, Gia Lai hay An Giang thì đây lại là món khoái khẩu của nhiều người. Nguyên liệu chính để nấu cháo bò là thịt bò, thường là phần nạm, gân, bắp hoặc bò viên. Thịt được hầm lâu trong nồi nước dùng có xương ống bò để tiết ra vị ngọt tự nhiên, không cần đến bột ngọt. Gạo để nấu cháo thường là gạo tẻ rang sơ hoặc trộn chút nếp, cho cháo vừa có độ sánh mịn vừa thơm bùi. Một số nơi còn nấu gạo bằng nước luộc thịt bò cho cháo thêm đậm vị. Đặc biệt, phần thức ăn kèm có thể thêm gan bò, lá sách, phổi hoặc bò viên xắt lát, mỗi thành phần góp phần tạo nên sự phong phú về hương và vị.

Gia vị là linh hồn của món cháo bò. Gừng đập dập, hành lá xắt nhuyễn, tiêu xay nhuyễn, nước mắm nhĩ ngon, ớt bằm và một ít hành phi là những thứ không thể thiếu. Ở một số địa phương như miền Trung, mọi người ăn cháo bò với rau thơm, cải bẹ xanh trụng sơ, hoặc kèm theo bánh quẩy, bánh hỏi. Nhiều hàng quán còn có bí quyết riêng để ướp thịt bò hoặc nêm nếm nước dùng, tạo ra vị cháo vừa thanh vừa đậm.

Trong ẩm thực các món cháo Việt, cháo vịt là món ăn mang đậm sắc thái ẩm thực truyền thống, kết hợp giữa sự thanh nhã của cháo trắng và hương vị đậm đà, béo ngậy của thịt vịt. Khác với cháo gà thanh nhẹ hay cháo lòng đậm đà nội tạng, cháo vịt lại là sự hòa quyện giữa mộc mạc và tinh tế.

Nguyên liệu chính là vịt,  thường dùng vịt cỏ hoặc vịt xiêm được làm sạch, xát muối và gừng để khử mùi hôi rồi luộc chín nguyên con. Nước luộc vịt chính là linh hồn của nồi cháo, bởi nó mang vị ngọt tự nhiên, hơi béo và thơm nhẹ mùi gừng. Gạo nấu cháo là gạo tẻ rang sơ hoặc trộn thêm chút nếp, giúp cháo sánh mịn mà vẫn giữ được hạt gạo mềm tơi. Thịt vịt sau khi luộc chặt miếng vừa ăn, đôi khi có thể xé nhỏ và ít nước mắm gừng để ăn kèm riêng hoặc thả trực tiếp vào tô cháo tùy khẩu vị từng vùng.

Gia vị ăn kèm cháo vịt là nước mắm gừng giã tay, pha sao cho đủ vị mặn – ngọt – cay – nồng, làm dậy lên hương vị thịt vịt mà không át đi độ ngọt của cháo. Hành lá, rau răm, tiêu xay, ớt lát cũng là những thành phần làm tròn hương vị cho món ăn. Ở miền Tây, người ta còn ăn cháo vịt với lòng vịt luộc, huyết vịt và cả trứng vịt non tạo thành bữa ăn trọn vẹn và bổ dưỡng.

Một tô cháo gà chuẩn vị bắt đầu từ con gà ngon, thường là gà ta thả vườn, thịt săn chắc, da vàng ươm. Gà được luộc chín cùng vài lát gừng để khử mùi tanh và tạo hương thơm thanh mát. Nước luộc gà được giữ lại để nấu cháo, nhờ vậy mà cháo có vị ngọt dịu tự nhiên, không cần đến hạt nêm hay bột ngọt. Gạo đem rang sơ để tăng hương thơm, sau đó nấu nhuyễn đến độ sánh vừa, sao cho từng hạt gạo như tan ra trong nước mà vẫn giữ độ mềm mịn.

Phần thịt gà luộc thường được xé nhỏ hoặc chặt miếng tùy khẩu vị từng vùng. Ở miền Bắc, cháo gà đơn giản với thịt xé, chút hành hoa, lá chanh thái chỉ và tiêu đen. Miền Trung thì thêm chút hành tím phi thơm, rau răm. Miền Nam phong phú hơn với cháo gà lòng, gồm mề, gan, tim ăn kèm giá trụng, rau thơm và nước mắm tỏi ớt. Dù ở đâu, gia vị đi kèm luôn có gừng, tiêu, hành, và nước mắm nguyên chất tạo nên hương vị hài hòa, ấm áp.

Theo Taste Atlas

Nguồn: https://sgtt.thesaigontimes.vn/bon-mon-chao-viet-lot-top-100-mon-chao-ngon-nhat-the-gioi/

Mùa săn trứng kiến

on .

Cơn mưa đầu mùa nặng hạt trút xuống các cánh rừng Bảy Núi chính là thời điểm đồng bào Khmer bắt đầu cuộc hành trình săn trứng kiến. Từ lâu, trứng kiến được xem là món đặc sản độc lạ của bà con miền sơn cước.Đồng bào Khmer bắt trứng kiến 

Đồng bào Khmer bắt trứng kiến

Vất vả xuyên rừng

Sáng tinh mơ, có mặt sớm ở vùng Bảy Núi, chúng tôi sẽ dễ dàng bắt gặp bà con đi tìm trứng kiến. Mùa hè, trẻ em cùng cha mẹ rong ruổi qua các cánh rừng dõi mắt tìm tổ kiến. Mỗi năm đến mùa mưa, tiết trời núi rừng mát mẻ, cây cối đâm chồi, nảy lộc. Vô số sinh vật rừng sinh sôi, phát triển, trong đó có đàn kiến tìm những chỗ hẻo lánh, thoáng mát làm tổ đẻ trứng. Nắm bắt được đặc tính này, bà con Khmer trang bị đồ nghề băng rừng, vượt núi tìm trứng kiến. Có dịp đi cùng anh Chau Đa bắt trứng kiến mới thấy hết sự thú vị của cái “nghề” độc lạ này.

Đồ nghề của anh chỉ là cây tầm vông dài có gắn cái rổ nhựa treo tòn ten phía trên ngọn để hứng trứng kiến. Ngày nào cũng vậy, anh Chau Đa cùng người thân đi qua các dãy núi ít người lui tới để tìm tổ kiến.

Anh Chau Đa cho hay, thuở xưa, Bảy Núi còn hoang sơ có rất nhiều kiến vàng làm tổ. Thế nhưng, mấy năm nay nhiều vườn xoài sử dụng phân, thuốc bảo vệ thực vật, nên đàn kiến phải tìm nơi cao trên núi để làm tổ. Muốn thu hoạch được nhiều trứng kiến phải đi hàng chục cây số mới gặp được tổ của chúng. Loài kiến mà anh Chau Đa bắt lấy trứng về ăn chủ yếu là kiến vàng.

Anh Chau Đa kể, ngày trước tới mùa mưa, nhà nào muốn ăn trứng kiến vàng, chỉ cần ra sau vườn cầm cây tầm vông thọc nhẹ vào tổ, thì trứng kiến rớt xuống rổ nhiều vô kể. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, tổ kiến vàng ít dần.

Theo anh Chau Đa, khu vực kiến vàng làm tổ nhiều nhất là các ngọn núi ít người lui tới. Giờ đây, loài kiến này rất tinh khôn, do bị nhiều người săn bắt trứng của chúng. Tâm sự với chúng tôi một đoạn, anh lấy cây tầm vông giơ cao lên ngọn tràm bông vàng rồi rung nhẹ vào tổ kiến. Đàn kiến vàng bị đánh động, chúng bò ra bám đầy rổ. Nhiều con nhanh chân chạy dọc theo cây tầm vông, bò lên người anh Chau Đa cắn hàng chục phát. Bị cắn đau quá, anh Chau Đa nhanh tay phủi liên tục...

 

Trứng kiến xào hành

Món ăn đặc sản đắt đỏ

Chúng tôi ở gần đó cũng bị đàn kiến vàng vỡ tổ cắn chi chít khắp người, rất đau. Để thoát khỏi đàn kiến, tôi phải bỏ chạy rất xa tổ của chúng. Kiến vàng rất tinh ranh, chúng cắn xong cứ đeo bám mãi trên cơ thể. Muốn thoát khỏi cặp càng sắc bén của loài kiến, chỉ còn cách tự tay mình phủi chúng văng ra. Vì loài này cắn xong là bám víu mãi không buông tha bất cứ ai.

Ngày trước, những nhà vườn trước khi thu hoạch xoài phải dùng tro củi thoa khắp người. Bởi tro có vị mặn nhẹ, đàn kiến bám vào người bắt hơi được mùi tro, thì chúng tự rơi. Thấy chúng tôi nhăn nhó, anh Chau Đa cùng đám trẻ nhìn cười tươi như trêu ghẹo. Chau Đa nói rằng, tính đến nay anh đã hơn 20 năm đi bắt kiến, dường như anh bị kiến vàng cắn nhiều hơn ăn cơm.

Vừa bắt xong ổ kiến vàng này, anh Chau Đa nhanh tay đổ trứng vào chiếc thùng bê. Sau đó, anh đi tiếp một đoạn, rồi vươn cây tầm vông lên cây cao để bắt ổ trứng kiến khác. Vừa bắt xong ổ trứng kiến, anh Chau Đa kéo chiếc vợt xuống, đàn kiến tiếp tục bu cắn vào chân anh. Chau Đa nhanh chân giẫm trên đất để đàn kiến rớt xuống. Thi thoảng, tôi thấy anh vẫn nhăn nhó vì bị kiến cắn. Nếu ai lần đầu theo cùng người dân bắt trứng kiến mới thấy hết sự vất vả của ngón “nghề” này. Người nào sơ ý đứng cạnh người săn trứng kiến sẽ bị chúng cắn vạ lây. Thấy anh Chau Đa bị kiến cắn, tôi cười sặc sụa.

Nhìn vào chiếc thùng bê, trứng kiến nhiều vô kể. Để trứng kiến còn tươi ngon, người dân có cách làm rất đơn giản. Họ dùng nước muối cho vào thùng để giữ trứng kiến không bị hư trong quá trình đi bắt. Khi trứng kiến được mang về nhà, rửa sạch đem bán tại chợ mỗi ký 250.000 đồng. Qua bàn tay người chế biến, trứng kiến sẽ trở thành nhiều món ăn ngon trứ danh. Trong đó, 3 món ngon được ưa chuộng là trứng kiến xào thịt ba rọi, trứng kiến kho dưa cải và canh trứng kiến nấu lá giang trên rừng.

Bà Neang Nhây là một trong những người chuyên đi bắt, chế biến trứng kiến nói rằng, món canh chua trứng kiến, chỉ cần đun nước sôi rồi thả trứng kiến vào nấu với lá giang, chuối cây xắt mỏng sẽ thành món ngon, hương vị đậm đà. Một số nơi còn chế biến món trứng kiến nấu lẩu vịt xiêm, trứng kiến xào hành…

Húp từng muỗng canh trứng kiến nóng hổi, những cái trứng nhỏ xíu như hạt gạo vỡ lụp bụp, vị béo bùi, vị chua hăng của trứng kiến hòa với vị chua nhẹ của lá giang, vị chan chát của chuối cây, tạo nên hương vị độc đáo khiến thực khách khó quên.

Mùa này, về Bảy Núi men theo các con đường nông thôn sẽ thấy bà con đồng bào Khmer bắt và bày bán trứng kiến. Người dân đi đường gặp trứng kiến thì ngay lập tức họ ghé mua rôm rả.

LƯU MỸ

Nguồn: https://baomoi.com/mua-san-trung-kien-c52710955.epi

 

Bún bò Huế được vinh danh Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

on .

'Tri thức dân gian về Bún bò Huế' được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, tạo cơ hội bảo tồn và phát huy giá trị ẩm thực đặc sắc xứ Huế.

  Tô bún bò Huế với lát thịt bò mềm, giò heo béo ngậy, chả cua, huyết và hành ngò rắc phía trên. Ảnh: Anthony Bourdain/X.

Tô bún bò Huế với lát thịt bò mềm, giò heo béo ngậy, chả cua, huyết và hành ngò rắc phía trên. Ảnh: Anthony Bourdain/X. 

Ông Phan Thanh Hải, Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao TP Huế, cho biết Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ký Quyết định số 2203/QĐ-BVHTTDL, công nhận "Tri thức dân gian về Bún bò Huế" là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, thuộc loại hình tri thức dân gian.

Cùng được vinh danh đợt này còn có "lễ hội Bhươih Haro Tơme (mừng lúa mới)" của đồng bào Cơ Tu tại các xã Nam Đông, Long Quảng, Khe Tre (TP Huế). Đây đều là những giá trị văn hóa đặc sắc gắn liền với đời sống, tín ngưỡng và phong tục của cư dân bản địa.

Bún bò Huế từ lâu đã vượt khỏi ranh giới địa phương để trở thành món ăn nổi tiếng khắp cả nước và trên thế giới. Đằng sau tô bún trứ danh là kho tàng tri thức dân gian được tích lũy và truyền lại qua nhiều thế hệ, từ cách chọn nguyên liệu, nấu nước dùng, nêm nếm gia vị đến cách trình bày món ăn.

Tô bún nóng hổi với sợi nhỏ, nước dùng ngọt thanh ninh từ xương bò, giò heo, hòa quyện hương sả và ruốc tạo nên mùi thơm khó cưỡng. Điểm nhấn là lát thịt bò mềm, giò heo béo ngậy, thêm chả cua, huyết và hành ngò rắc phía trên.

Ẩm thực Huế vốn nổi tiếng cầu kỳ, món bún bò cũng không ngoại lệ. Mỗi công đoạn đều được người Huế thực hiện tỉ mỉ, từ chọn nguyên liệu, nêm nếm đến cách bày biện. Khi ăn, thực khách thường thêm rau sống như bắp chuối, giá, rau thơm và ớt tươi để tăng vị đậm đà.

Các quán thường mở từ tinh mơ, nghi ngút khói và thơm lừng cả góc phố. Dù ở vỉa hè hay trong nhà, tô bún nào cũng giữ được hương vị đặc trưng: nước dùng đậm đà, thơm mùi sả, ruốc, cay nồng và đầy đặn topping.

 
 Gánh bún bò Huế Mệ Kéo có tuổi đời hơn 70 năm. Ảnh: Thảo Nguyên.

Gánh bún bò Huế Mệ Kéo có tuổi đời hơn 70 năm. Ảnh: Thảo Nguyên. 

Năm 2014, chuyên gia ẩm thực Anthony Bourdain giới thiệu bún bò Huế trên kênh CNN, gọi đây là "món súp ngon nhất thế giới".

Năm 2016, Tổ chức Kỷ lục châu Á xếp bún bò Huế vào Top 100 món ăn đạt giá trị châu Á. Năm 2023, trang ẩm thực quốc tế Taste Atlas xếp Huế ở vị trí 28 trong 100 thành phố có món ăn ngon nhất thế giới, trong đó bún bò Huế được giới thiệu là "món nhất định phải thử khi đến vùng đất Cố đô".

Theo ông Phan Thanh Hải, việc ghi danh di sản không chỉ là sự ghi nhận xứng đáng cho giá trị văn hóa ẩm thực Huế, mà còn tạo nền tảng pháp lý, động lực để địa phương thúc đẩy các hoạt động bảo tồn, quảng bá và phát huy giá trị di sản.

"Chúng tôi sẽ phối hợp với các sở, ngành, nghệ nhân và cộng đồng để triển khai các hoạt động truyền dạy, tôn vinh và lan tỏa tri thức dân gian về bún bò Huế. Món ăn này không chỉ là niềm tự hào của người Huế mà còn hướng đến trở thành biểu tượng văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế", ông Hải nói.

Châu Sa

Nguồn: BÁO MỚI

Về Bến Tre thử bánh xèo nấm mối, lẩu gà sầu riêng

on .

Bến Tre không chỉ nổi tiếng với những rặng dừa bạt ngàn mà còn bởi nền ẩm thực phong phú, gắn liền với đời sống văn hóa địa phương.

Câu ca truyền miệng vẫn còn vang vọng:

"Nghe anh đi đó đi đây, cho em hỏi vặn câu này:
Bánh phồng, bánh tráng đất này đâu ngon?
Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc
Măng cụt Hàm Luông vỏ ngoài nâu, trong trắng như bông gòn,
Anh đây nói thiệt sao em còn so đo…"

Không rõ câu ca xuất hiện từ bao giờ, nhưng đến nay, bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc vẫn là những đặc sản nức tiếng, gắn liền với tên tuổi của vùng đất Bến Tre.

Bên cạnh đó là kẹo dừa – món quà quê từng vươn ra thế giới, làm nên thương hiệu cho vùng đất này. Những thức quà ấy không chỉ ngọt ngào hương vị mà còn mang đậm dấu ấn truyền thống của người dân xứ dừa.

Gỏi tôm củ hủ dừa. Ảnh: Huỳnh Biển

Vào mùa mưa, Bến Tre lại nhộn nhịp với mùa nấm mối – loại nấm mọc tự nhiên sau những cơn mưa lớn. Người dân thường tranh thủ hái nấm vào sáng sớm khi mặt trời chưa lên, lúc nấm còn chưa nhú khỏi mặt đất, được xem là thời điểm nấm tươi ngon nhất.

Nấm mối có thể chế biến thành nhiều món như xào, nấu canh hay làm nhân bánh, nhưng đặc sắc nhất vẫn là bánh xèo nấm mối.

Bánh xèo nấm mối Bến Tre. Ảnh: Huỳnh Biển

Bánh xèo Bến Tre có hương vị riêng biệt bởi phần nhân độc đáo củ hủ dừa ngọt, giòn hòa quyện với nấm mối béo ngậy, tôm, thịt heo hoặc thịt vịt... tạo nên món ăn hấp dẫn, khó trộn lẫn. Dù cùng nguyên liệu với nhiều địa phương khác, bánh xèo nấm mối Bến Tre vẫn giữ được dấu ấn riêng, khiến nhiều thực khách khen ngợi khi thưởng thức.

Một đặc sản khác cũng làm nên tên tuổi của Bến Tre là bánh canh bột xắt nấu với nước cốt dừa và thịt vịt. Nước lèo được nấu từ cốt dừa đặc, thơm béo, kết hợp cùng bột gạo xắt thủ công và thịt vịt tạo nên món ăn đậm đà, mang đúng tinh thần ẩm thực của vùng đất được mệnh danh “vương quốc dừa”.

Lẩu gà nấm mối sầu riêng mang đến hương vị độc đáo. Ảnh: Huỳnh Biển

Gần đây, người dân Bến Tre tiếp tục sáng tạo thêm món ăn mới lạ: lẩu gà – nấm mối – sầu riêng, hiện được giới thiệu tại Cồn Phụng. Nước lẩu được ninh từ gà thả vườn, kết hợp với nấm mối thiên nhiên giòn ngọt và vị sầu riêng béo thơm, tạo nên hương vị độc đáo, khó quên.

Nhiều thực khách cho biết món ăn này không chỉ lạ miệng mà còn là một trải nghiệm ẩm thực đáng nhớ, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và sự sáng tạo trong ẩm thực miền Tây.

Huỳnh Biển

Nguồn: https://baomoi.com/ve-ben-tre-thu-banh-xeo-nam-moi-lau-ga-sau-rieng-c52611163.epi?utm_source=dapp&utm_campaign=share

Cơm hến, bún hến làm say lòng thực khách

on .

Cơm nguội hay bún trộn cùng hến xào, tóp mỡ, đậu phộng rang, rau thơm, mắm ruốc Huế và nước hến nóng hổi... mang đến món cơm hến, bún hến làm say lòng thực khách.

Cùng với nhiều món ăn đặc sắc ở mảnh đất Cố đô Huế, cơm hến, bún hến là những món ăn dân dã nhưng đậm đà hương vị xứ Huế, được người dân bên dòng Hương Giang yêu thích suốt bao đời nay.

Bún hến, mì hến Huế với hến xào đậm vị, tóp mỡ giòn tan, rau sống thơm ngon...

Nhiều người mê cái vị mặn mòi, béo ngậy pha chút cay nhẹ tạo nên tổng thể hài hòa, kích thích vị giác của cơm hến, bún hến. Những quán nổi tiếng như cơm hến Hoa Đông, cơm hến Hàn Mặc Tử... đều đậm chất dân dã.

Di chuyển đến Cồn Hến xinh đẹp, du khách ghé quán cơm hến Hoa Đông nổi tiếng lúc gần trưa để thưởng thức đặc sản Huế. Bên trong quán, có nhiều người đang ăn món cơm hến, bún hến.

Đang có chuyến du lịch Huế, một du khách đến từ Hà Nội bày tỏ, bản thân từng ăn cơm hến ở nhiều nơi, nhưng khi đến Cồn Hến càng cảm nhận được trọn vẹn hơn hương vị của món ăn này.

“Cái vị ngọt thanh của nước hến, cái giòn tan của tóp mỡ và vị ngọt tự nhiên của hến khiến mình cứ muốn ăn thêm. Thưởng thức một tô bún hến giữa xứ Huế giữa dòng sông Hương lững lờ trôi, có cảm giác như mình đang sống chậm lại, thư thái hơn”.

Người Huế thường ăn cơm hến, bún hến với nước luộc hến nóng hổi để chan vào, làm tăng hương vị đậm đà.

Bưng các tô cơm hến đến bàn cho khách, bà Hồ Thị Hoa (64 tuổi, chủ quán cơm hến Hoa Đông) chia sẻ, bà được học nghề từ mẹ chồng, rồi phụ bán và dần quen với công việc, gắn bó mãi đến nay.

Theo bà Hoa, cùng với hến từ sông Hương, nhà bà làm tóp mỡ, đậu phộng... để cho ra tô cơm hến, bún hến thơm ngon, đậm đà hương vị.

“Từ khi bán hàng rong cho đến khi bán ở Cồn Hến này, chúng tôi vui mừng khi được đón tiếp, phục vụ du khách gần xa đến thưởng thức món ăn đặc sản Huế”, bà Hoa cho hay.

Gọi một tô cơm hến, một tô bún hến, chúng tôi thong thả thưởng thức các món ngon. Nhìn bằng mắt thường, các tô cơm hến, bún hến đầy ắp những nguyên liệu và màu sắc bắt mắt. Tóp mỡ màu vàng, đậu phộng màu đỏ, rau sống màu xanh và màu trắng của cơm, của bún... làm mãn nhãn du khách.

Cơm nguội hay bún được trộn cùng hến xào, tóp mỡ, đậu phộng rang, rau thơm, mắm ruốc Huế và nước hến nóng hổi... đã mang đến món cơm hến, bún hến làm say lòng đông đảo thực khách.

Quán cơm hến Hoa Đông luôn trở thành điểm đến hàng đầu của nhiều du khách.

Đối với nhiều du khách, thưởng thức cơm hến, bún hến tại Cồn Hến là trải nghiệm khó quên khi đến với cố đô. Giữa không gian mộc mạc của một cồn nhỏ nằm giữa sông Hương, món ăn dân dã này lại khiến bao người mê đắm bởi hương vị đặc trưng không thể lẫn vào đâu.

“Hến xào thơm lừng, vị ngọt đậm đà hòa quyện với cơm nguội hay bún tươi, rau sống, tóp mỡ, đậu phộng... tạo nên món ăn vừa giản dị vừa hấp dẫn. Cái ngon không chỉ đến từ nguyên liệu, mà còn từ cái tình của người Huế gửi gắm trong từng chén cơm, tô bún”, du khách Nguyễn Thời, đến từ Hà Tĩnh, chia sẻ.

Theo các chủ quán ở Huế, nguyên liệu chính của các món cơm hến, bún hến là con hến. Đây là loại thủy sản nhỏ nhưng ngọt thịt, được vớt lên từ sông Hương, phá Tam Giang, sau đó luộc chín, xào với gia vị cho thơm lừng.

Phần cơm hoặc bún được ăn kèm với hến xào, tóp mỡ giòn tan, rau sống các loại, đậu phộng rang và không thể thiếu tô nước hến ngon ngọt. Có dịp được thưởng thức món ngon này, du khách có cảm giác các nguyên liệu như được hòa quyện vào nhau, tạo nên vị ngon hài hòa, vừa thanh mát vừa đậm đà.

Cơm hến, bún hến thường được ăn kèm với rau sống, tóp mỡ, đậu phộng...

Cơm hến, bún hến là một trong những món ăn tiêu biểu góp phần làm nên danh xưng "Kinh đô ẩm thực" của Huế. Dù chỉ là món ăn dân dã, giá rẻ, nhưng cơm hến lại thể hiện trọn vẹn tinh thần ẩm thực Huế như cầu kỳ, hài hòa và đậm đà bản sắc. Từ những nguyên liệu bình dị như hến, rau sống, bún, cơm nguội..., người Huế đã khéo léo kết hợp để tạo nên món ăn đầy màu sắc, đủ vị chua - cay - mặn - ngọt.

Không chỉ ngon miệng, cơm hến còn gắn liền với đời sống thường nhật, từ quán cóc ven đường đến mâm cơm gia đình, ai cũng có thể thưởng thức. Chính sự gần gũi nhưng tinh tế ấy khiến món ăn này trở thành linh hồn của ẩm thực Huế, là niềm tự hào và dấu ấn không thể thiếu trong bản đồ ẩm thực Việt Nam.

Ở Huế, du khách dễ dàng bắt gặp món này từ các gánh hàng rong đến các quán nhỏ ven đường, nhưng nổi tiếng nhất vẫn là ở khu vực Cồn Hến, nơi được xem là cái nôi của món ăn trứ danh này.

Cơm hến, bún hến gắn bó với đời sống thường nhật, phản ánh sự thanh đạm và tinh tế của ẩm thực Huế.

Người dân xứ Huế luôn cảm thấy tự hào về vùng đất giàu truyền thống ẩm thực, điều đó càng được khẳng định khi đặc sản cơm hến từng được xác lập kỷ lục châu Á. Đây không chỉ là niềm vui của riêng người dân Cố đô, mà còn là minh chứng rõ nét cho giá trị văn hóa – ẩm thực đặc sắc nơi đây.

Ngoài ra, Huế có 6 món ăn được vinh danh trong “Hành trình tìm kiếm giá trị Văn hóa Ẩm thực tiêu biểu Việt Nam” như cơm hến, bún bò Huế...

Những thành tích này đã góp phần khẳng định vị thế của Huế trên bản đồ ẩm thực châu Á, đồng thời tạo động lực để gìn giữ, phát huy hơn nữa những giá trị văn hóa ẩm thực truyền thống quý báu mà vùng đất này đang sở hữu.

Hến được luộc kỹ, tách vỏ, sau đó xào thơm với các gia vị...

Tóp mỡ giòn rụm, tăng thêm sự hấp dẫn cho món cơm hến, bún hến.

Dù là món ăn bình dân, cơm hến, bún hến mang đậm bản sắc văn hóa và khẩu vị riêng của người Huế.

Thời gian đằng đẵng trôi qua, cơm hến, bún hến dần trở thành nét văn hóa ẩm thực thấm đẫm hồn quê. Trong tô cơm, tô bún, người ta cảm nhận được cả vị mặn mòi của sông nước, cái chân tình của người dân và sự tinh tế của xứ kinh kỳ. Ai đã một lần thưởng thức, hẳn còn nhớ mãi cái dư vị mộc mạc mà đậm đà ấy.

Và có lẽ, giữa muôn vàn món ngon thời hiện đại, cơm hến, bún hến vẫn giữ được chỗ đứng riêng như một ký ức thân thương, bình dị mà khó quên trong lòng thực khách.

Nguyễn Hiệp

Nguồn: https://baomoi.com/com-hen-bun-hen-lam-say-long-thuc-khach-c52626503.epi