Tin Tức Khác
Món canh thơm ngậy ở xứ Thanh nấu từ nguyên liệu đặc biệt, ninh 8 tiếng mới mềm
Trong những ngày lễ, Tết và bữa ăn hằng ngày của các gia đình người Thái ở xứ Thanh không thể thiếu được món canh thanh mát, thơm ngậy này.
Thanh Hóa có rất nhiều các món ăn nổi tiếng như nem chua, gỏi nhệch, chả tôm, bánh răng bừa,… Ít ai biết tới món canh môn da trâu của người Thái ở đây. Món ăn này được xem là “đặc sản” của người dân vùng cao, xuất hiện thường xuyên trong những bữa ăn hằng ngày.

Mâm cơm của người Thái ở Thanh Hóa thường có món canh môn da trâu. Ảnh: Lê Dương
Theo người Thái ở xã Sơn Thủy (huyện Quan Sơn), món canh da trâu đã có từ rất lâu. Tuy nhiên, không phải nhà nào cũng sẵn có da trâu. Loại da trâu được người dân sử dụng thường là những miếng da khô, được bảo quản bằng cách để trên gác bếp, có thể dùng được cả năm hoặc lâu hơn.

Do miếng da trâu khô, nên khi nấu canh, người nấu phải xử lý rất cầu kỳ, qua nhiều công đoạn. Đầu tiên, da trâu phải được nướng trên bếp lửa khoảng 15-20 phút, sau đó chần qua nước sôi khoảng 2-3 phút, lấy dao cạo hết những mảng bám của bồ hóng và rửa sạch.
Khi miếng da trâu đã sạch, người dân sẽ chặt thành từng miếng vừa ăn rồi đem ninh kỹ. Thời gian ninh mềm mất khoảng 6-8 tiếng đồng hồ.

Bột gạo nếp giúp nước canh trở nên sền sệt. Ảnh: Lê Dương
Khi da trâu đã mềm, người ta cho lá môn (cả thân cây và lá) vào nồi nấu cho đến khi lá môn tơi nhuyễn. Để nồi canh có độ sánh, không thể thiếu được bột gạo nếp.
Gạo nếp trước đó được mang đi ngâm khoảng 30 phút, sau đó vớt ra để ráo nước, giã nhuyễn. Khi nồi canh đã chín, người nấu nêm nếm các loại gia vị như mắc khén, tiêu, lá lốt, mắm, muối… để tạo nên hương vị đặc trưng.

Để nấu được một nồi canh da trâu mất từ 6 đến 8 tiếng đồng hồ. Ảnh: Lê Dương
Theo người dân nơi đây, canh môn da trâu có tính thanh mát, thơm ngậy, không chỉ có mặt trong bữa ăn của các gia đình, mà còn là thứ không thể thiếu vào dịp lễ, Tết của đồng bào Thái. Tùy sở thích của mỗi người, có thể cho thêm ít pịa để món canh thêm đậm đà.
Trước đây, món ăn này thường được người dân nấu ăn nhiều vào mùa đông hay những ngày mưa.
Cơm hến, bún hến làm say lòng thực khách
Cơm nguội hay bún trộn cùng hến xào, tóp mỡ, đậu phộng rang, rau thơm, mắm ruốc Huế và nước hến nóng hổi... mang đến món cơm hến, bún hến làm say lòng thực khách.
Cùng với nhiều món ăn đặc sắc ở mảnh đất Cố đô Huế, cơm hến, bún hến là những món ăn dân dã nhưng đậm đà hương vị xứ Huế, được người dân bên dòng Hương Giang yêu thích suốt bao đời nay.
Bún hến, mì hến Huế với hến xào đậm vị, tóp mỡ giòn tan, rau sống thơm ngon...
Nhiều người mê cái vị mặn mòi, béo ngậy pha chút cay nhẹ tạo nên tổng thể hài hòa, kích thích vị giác của cơm hến, bún hến. Những quán nổi tiếng như cơm hến Hoa Đông, cơm hến Hàn Mặc Tử... đều đậm chất dân dã.
Di chuyển đến Cồn Hến xinh đẹp, du khách ghé quán cơm hến Hoa Đông nổi tiếng lúc gần trưa để thưởng thức đặc sản Huế. Bên trong quán, có nhiều người đang ăn món cơm hến, bún hến.
Đang có chuyến du lịch Huế, một du khách đến từ Hà Nội bày tỏ, bản thân từng ăn cơm hến ở nhiều nơi, nhưng khi đến Cồn Hến càng cảm nhận được trọn vẹn hơn hương vị của món ăn này.
“Cái vị ngọt thanh của nước hến, cái giòn tan của tóp mỡ và vị ngọt tự nhiên của hến khiến mình cứ muốn ăn thêm. Thưởng thức một tô bún hến giữa xứ Huế giữa dòng sông Hương lững lờ trôi, có cảm giác như mình đang sống chậm lại, thư thái hơn”.
Người Huế thường ăn cơm hến, bún hến với nước luộc hến nóng hổi để chan vào, làm tăng hương vị đậm đà.
Bưng các tô cơm hến đến bàn cho khách, bà Hồ Thị Hoa (64 tuổi, chủ quán cơm hến Hoa Đông) chia sẻ, bà được học nghề từ mẹ chồng, rồi phụ bán và dần quen với công việc, gắn bó mãi đến nay.
Theo bà Hoa, cùng với hến từ sông Hương, nhà bà làm tóp mỡ, đậu phộng... để cho ra tô cơm hến, bún hến thơm ngon, đậm đà hương vị.
“Từ khi bán hàng rong cho đến khi bán ở Cồn Hến này, chúng tôi vui mừng khi được đón tiếp, phục vụ du khách gần xa đến thưởng thức món ăn đặc sản Huế”, bà Hoa cho hay.
Gọi một tô cơm hến, một tô bún hến, chúng tôi thong thả thưởng thức các món ngon. Nhìn bằng mắt thường, các tô cơm hến, bún hến đầy ắp những nguyên liệu và màu sắc bắt mắt. Tóp mỡ màu vàng, đậu phộng màu đỏ, rau sống màu xanh và màu trắng của cơm, của bún... làm mãn nhãn du khách.
Cơm nguội hay bún được trộn cùng hến xào, tóp mỡ, đậu phộng rang, rau thơm, mắm ruốc Huế và nước hến nóng hổi... đã mang đến món cơm hến, bún hến làm say lòng đông đảo thực khách.
Quán cơm hến Hoa Đông luôn trở thành điểm đến hàng đầu của nhiều du khách.
Đối với nhiều du khách, thưởng thức cơm hến, bún hến tại Cồn Hến là trải nghiệm khó quên khi đến với cố đô. Giữa không gian mộc mạc của một cồn nhỏ nằm giữa sông Hương, món ăn dân dã này lại khiến bao người mê đắm bởi hương vị đặc trưng không thể lẫn vào đâu.
“Hến xào thơm lừng, vị ngọt đậm đà hòa quyện với cơm nguội hay bún tươi, rau sống, tóp mỡ, đậu phộng... tạo nên món ăn vừa giản dị vừa hấp dẫn. Cái ngon không chỉ đến từ nguyên liệu, mà còn từ cái tình của người Huế gửi gắm trong từng chén cơm, tô bún”, du khách Nguyễn Thời, đến từ Hà Tĩnh, chia sẻ.
Theo các chủ quán ở Huế, nguyên liệu chính của các món cơm hến, bún hến là con hến. Đây là loại thủy sản nhỏ nhưng ngọt thịt, được vớt lên từ sông Hương, phá Tam Giang, sau đó luộc chín, xào với gia vị cho thơm lừng.
Phần cơm hoặc bún được ăn kèm với hến xào, tóp mỡ giòn tan, rau sống các loại, đậu phộng rang và không thể thiếu tô nước hến ngon ngọt. Có dịp được thưởng thức món ngon này, du khách có cảm giác các nguyên liệu như được hòa quyện vào nhau, tạo nên vị ngon hài hòa, vừa thanh mát vừa đậm đà.
Cơm hến, bún hến thường được ăn kèm với rau sống, tóp mỡ, đậu phộng...
Cơm hến, bún hến là một trong những món ăn tiêu biểu góp phần làm nên danh xưng "Kinh đô ẩm thực" của Huế. Dù chỉ là món ăn dân dã, giá rẻ, nhưng cơm hến lại thể hiện trọn vẹn tinh thần ẩm thực Huế như cầu kỳ, hài hòa và đậm đà bản sắc. Từ những nguyên liệu bình dị như hến, rau sống, bún, cơm nguội..., người Huế đã khéo léo kết hợp để tạo nên món ăn đầy màu sắc, đủ vị chua - cay - mặn - ngọt.
Không chỉ ngon miệng, cơm hến còn gắn liền với đời sống thường nhật, từ quán cóc ven đường đến mâm cơm gia đình, ai cũng có thể thưởng thức. Chính sự gần gũi nhưng tinh tế ấy khiến món ăn này trở thành linh hồn của ẩm thực Huế, là niềm tự hào và dấu ấn không thể thiếu trong bản đồ ẩm thực Việt Nam.
Ở Huế, du khách dễ dàng bắt gặp món này từ các gánh hàng rong đến các quán nhỏ ven đường, nhưng nổi tiếng nhất vẫn là ở khu vực Cồn Hến, nơi được xem là cái nôi của món ăn trứ danh này.
Cơm hến, bún hến gắn bó với đời sống thường nhật, phản ánh sự thanh đạm và tinh tế của ẩm thực Huế.
Người dân xứ Huế luôn cảm thấy tự hào về vùng đất giàu truyền thống ẩm thực, điều đó càng được khẳng định khi đặc sản cơm hến từng được xác lập kỷ lục châu Á. Đây không chỉ là niềm vui của riêng người dân Cố đô, mà còn là minh chứng rõ nét cho giá trị văn hóa – ẩm thực đặc sắc nơi đây.
Ngoài ra, Huế có 6 món ăn được vinh danh trong “Hành trình tìm kiếm giá trị Văn hóa Ẩm thực tiêu biểu Việt Nam” như cơm hến, bún bò Huế...
Những thành tích này đã góp phần khẳng định vị thế của Huế trên bản đồ ẩm thực châu Á, đồng thời tạo động lực để gìn giữ, phát huy hơn nữa những giá trị văn hóa ẩm thực truyền thống quý báu mà vùng đất này đang sở hữu.
Hến được luộc kỹ, tách vỏ, sau đó xào thơm với các gia vị...
Tóp mỡ giòn rụm, tăng thêm sự hấp dẫn cho món cơm hến, bún hến.
Dù là món ăn bình dân, cơm hến, bún hến mang đậm bản sắc văn hóa và khẩu vị riêng của người Huế.
Thời gian đằng đẵng trôi qua, cơm hến, bún hến dần trở thành nét văn hóa ẩm thực thấm đẫm hồn quê. Trong tô cơm, tô bún, người ta cảm nhận được cả vị mặn mòi của sông nước, cái chân tình của người dân và sự tinh tế của xứ kinh kỳ. Ai đã một lần thưởng thức, hẳn còn nhớ mãi cái dư vị mộc mạc mà đậm đà ấy.
Và có lẽ, giữa muôn vàn món ngon thời hiện đại, cơm hến, bún hến vẫn giữ được chỗ đứng riêng như một ký ức thân thương, bình dị mà khó quên trong lòng thực khách.
Mùa phơi cá cơm ở biển Cà Ná
Khi ghé thăm xã Cà Ná, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận mùa này, du khách sẽ có dịp khám phá nghề hấp, phơi cá cơm của bà con ngư dân hay trải nghiệm cuộc sống diêm dân trên ruộng muối trăm năm tuổi.
Cá cơm sau khi được các ngư dân đánh bắt về thì được phân chia thành hai nửa: một nửa đưa vào hấp, phơi khô và bán ra thị trường; một nửa được đưa vào chế biến nước mắm. Ảnh: Lữ Duy Tường
Người dân làm nghề hấp cá cơm sơ chế sạch sẽ bằng nước ngọt, trải đều lên vỉ và đưa vào lò hấp… Ảnh: Lữ Duy Tường
… hấp xong thì phơi khô, cuối cùng là đưa cá vào hộp, vào túi để bán ra thị trường. Ảnh: Lữ Duy Tường
Theo kinh nghiệm, cá cơm cứ đưa vào lò hấp chừng 15 phút là đủ độ chín, giữ được mùi vị thơm ngon nhất. Ảnh: Lữ Duy Tường
Nghề hấp cá cơm phát triển từ hộ dân nhỏ lẻ đến cơ sở lớn, tạo nên không khí lao động khẩn trương. Ảnh: Lữ Duy Tường
Từng vỉ cá cơm chín được đưa ra khỏi lò, trải đều trên sân phơi rộng. Ảnh: Lữ Duy Tường
Cá phơi nắng liên tục 6-8 giờ sẽ khô giòn. Các cơ sở sản xuất thường chọn những địa điểm ven bờ biển làm nơi sản xuất, bởi những nơi này có thể đón nắng sớm, gió lộng, đảm bảo cho cá kịp khô trong ngày. Ảnh: Lữ Duy Tường
Cách đó không xa, du khách có thể kết hợp ghé thăm ruộng muối Cà Ná. Một ngày của diêm dân thường bắt đầu từ khi mặt trời vừa lên, tranh thủ thời gian nắng gay gắt nhất trong ngày để ra đồng làm muối. Ảnh: Lữ Duy Tường
Hạt muối Cà Ná được người tiêu dùng ưa chuộng bởi vị mặn đậm đà mà thanh. Nước mắm Cà Ná thơm ngon nổi tiếng xa gần, cũng một phần nhờ hạt muối này. Ảnh: Lữ Duy Tường
Muối kết tinh thành lớp dày trên mặt bạt, công nhân và diêm dân hàng ngày dùng xẻng đẩy, gọi là găng muối. Ảnh: Lữ Duy Tường
Ngoài ra, du khách cũng nên dành thời gian khám phá cánh đồng rong biển dọc bờ kè, xem ngư dân thu hoạch rong xanh để chế biến thức ăn gia súc và phân bón. Ảnh: Lữ Duy Tường
TÂM HOA TRỔ THIÊN LƯƠNG
Trong tác phẩm Thú chơi sách, học giả Vương Hồng Sển cho biết: “Năm 1941, tôi làm thơ ký nơi Dinh Thống đốc Nam Kỳ, tôi có một bạn đồng liêu là Bùi Văn Hai được đi Hà Nội học bổ túc về khoa gìn giữ thư viện (archiviste). Có tin thi sĩ Tản Đà từ trần, nhờ đến cụ bà Nguyễn Khắc Hiếu xin vài kỷ niệm của thi sĩ, thì bà cụ rất sẵn lòng”. Lá thư trả lời ngày 22 Novembre 1941 của bạn cụ Sển, nay đọc lại, tự dưng tôi lại liên tưởng đến một nhà thơ ở đất Bình Dương: Lê Hưng VKD, tịnh danh lhvkd.
Tại sao thế?
Không liên tưởng sao được khi trong thư có đoạn thuật lại câu nói của vợ nhà thơ Tản Đà nhận xét về chồng: “Ông sẽ làm nhiều loại về tiểu thuyết v.v… nữa nếu ông còn vì bao giờ trong lòng ông vẫn có thơ văn muốn thì có”. Rõ ràng, đây là phẩm chất của người viết chuyên nghiệp, tất nhiên cũng cần phải có tài năng thì bất kỳ lúc vào cũng có thể viết.
Từ lâu nay, có cơ may lẫn cơ duyên được “kết bạn” sáng tác văn nghệ với nhà thơ, nhà giáo, lương y, nhà nghiên cứu Lê Hưng VKD, tôi nhận thấy ông cũng là một mẫu người như thế. Là một cảm hứng hết sức giồi dào, mạch chảy của thi hứng tưởng chừng bất tận, có thể viết đều đặn mỗi ngày, ông đã chạm đến đề tài khác nhau và phóng bút ở nhiều thể loại. Sức viết ấy, khi con người ta đã ngoài 80 thì lại càng quý và hiếm.
Thời trai trẻ, như nhiều người viết khác, ồ, ai cũng thế thôi, đó là lúc thi nhân viết về tình yêu đôi lứa thì nay không còn trẻ nữa, ông đã hướng một thế giới khác: Tâm linh, Tôn giáo, Siêu hình... Để từ đó, ông quán niệm, suy ngẫm bằng thơ - là thơ là vần điệu là câu chữ nhưng ám ảnh trong đó, triết lý trong đó là nhằm đạt đến thấu cảm về Lẽ sống, về sự Vĩnh cữu, về Sắc Không của Đời. Tôi nghĩ đó là thpơ của một người khi đã đến một độ tuổi nào đó, đã “đạt đạo” thì mới có thể.
Với tập thơ "Đóa mẫu đơn trên môi" đã viết và đang viết là mạch cảm xúc mà nhà thơ Lê Hưng VKD từng ngày ngao du cùng nàng thơ, kể ra, trong mỗi ngày cỏn giữ được cảm xúc ấy thật kỳ diệu và hoan hỉ cho chính mình và cho bao người khác. Ở đây là những suy ngẫm thú vị, thí dụ trước đây, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã từng viết những câu tự nhắc nhở cho mình và cho người về cách thở:
Thót bụng thở ra
Phình bụng thở vào
Hai vai bất động
Chân tay thả lỏng
Êm, chậm, sâu, đều
Bình thường qua mũi
Khi gấp qua mồm
Đứng ngồi hay nằm
Ở đâu cũng được
Lúc nào cũng được
Với Lê Hưng VKD cũng là thở/ tập thở nhưng lại là một khái quát:
ÂM hít vào là "nhận"
DƯƠNG thở ra là "cho"
Vòng xoay tạo khỏe khoắn
Tâm hồn nhẹ như... THƠ !
.
Hít vào sâu, chậm rãi
Thêm việc phình bụng lên
Rồi thót nhanh bụng lại
Thở ra: quán chiếu "thiền"
Không ai thay Ta thở
Không ai thay Ta thiền
Âm Dương là thế đó
Nhờ Âm Dương đắc DUYÊN
Đây là một trong những bài thơ tạo ra ấn tượng khó quên. Rồi, trong cuộc sống này, há ai lại không từng nghe đến lời dạy của người xưa: “Nhẫn nhất thời phong bình lãng tĩnh, thoái nhất bước hải khoát thiên không” (Nhẫn một lúc thì sóng yên bể lặng, lùi một bước sẽ thấy biển rộng trời cao). Ngẫm ra lời dạy này thời nào cũng đúng và càng có ý nghĩa hơn trong tốc độ sống, nhịp sống của thời đại thế giởi phẳng. Nay trong suy ngẫm ngày, nhà thơ Lê Hưng VKD nhìn lại và diễn đạt bằng thể loại thơ bảy chữ, bốn khổ thơ:
Cứ bình tĩnh, dù đường đi chưa tới
Hành giả ơi, áo đã đẫm mồ hôi
Chân thấp chân cao, bóng chiều le lói
Đêm ngủ ngồi, rồi lặng ngắm sao rơi
Cứ bình tĩnh, trên cọc đời tạm trú
Hành giả ơi, chim bói cá tinh ma
Bầy ác điểu chờ thời cơ... gây sự
Đừng quan tâm, không bỏ áo cà sa
Cứ bình tĩnh, quên miệng người tán thán
Hành giả ơi, buông bỏ hết khen, chê
Lời ong tiếng ve, đấy là kiếp nạn!
Đã ra đi, sao biết được ngày về?
.
Cứ bình tĩnh, đành vậy thôi, thế nhé
Hoang mạc xa, rồi tịnh thất - nghiêm đường
Chuông và mõ, hành trì kinh CỨU THẾ
Hành giả ơi, tâm hoa trổ THIÊN LƯƠNG
Cảm xúc này, nhìn từ ngoại cảnh để tự nhủ lòng mình. Nhẫn, được soi rọi ở gó độ bình tĩnh, an nhiên, an tịnh, không vội vã cũng không sơ hãi, cứ bình tâm với chính mình để cuối cùng vẫn là mình là xét theo nghĩa của tử “thiên lương”. Tôi thích hai từ “thiên lương” kết thúc bài thơ này, là “Phần tốt đẹp có sẵn của con người do trời ban cho” (Hán - Việt tân tự điển, Nguyễn Quốc Hùng). Hầu như hiện nay ít ai sử dụng từ này nữa, vì thế, khi đọc của Lê Hưng VKD, tôi nhớ đến nhà thơ Tản Đà lúc lên Hầu trời (1921), Trời bảo công việc của tác giả "Giấc mộng lớn", "Giấc mộng con" ở trần gian:
Trời rằng: "Không phải là Trời đày,
Trời định sai con một việc này
Là việc "thiên lương" của nhân loại,
Cho con xuống thuật cùng đời hay."
Hiểu điều này, càng thấy bài thơ của Lê Hưng VKD đã hướng đến sự cốt lõi nhất khiến ta phải ngẫm nghĩ. Những bài thơ trong tập "Đóa mẫu đơn trên môi", luôn khiến người đọc phải trầm tĩnh suy ngẫm, không đọc vội, bình tâm nhẩn nha sẽ gặt hái được những điều mà ai ai cũng nói với lòng mình:
TÂM khỏe là ĐẠO khỏe
Đạo khỏe hết nguy nan
Vài dòng thơ chắp nối
Kỳ vọng sống BÌNH AN
L.M.Q
