NGÀNH CNTT TUYỂN SINH NHIỀU CHỈ TIÊU NGÀNH CNTT, CNTT VIỆT NHẬT VÀ KHOA HỌC DỮ LIỆU

Tin Tức Khác

Độc đáo loại mứt từ rễ cây, giá trên nửa triệu đồng 1kg vẫn cháy hàng dịp Tết

on .

Loại mứt từ rễ, củ của cây đinh lăng vẫn được nhiều người ưa chuộng bởi hương vị độc đáo và những lợi ích sức khỏe mà nó mang lại.

Loại mứt từ rễ cây, giá trên nửa triệu đồng 1kg

“Để làm được 1 kg mứt, tôi phải sử dụng 7-8kg củ đinh lăng làm nguyên liệu vì chỉ sử dụng phần mềm nhất của rễ để làm. Ảnh minh họa

“Để làm được 1 kg mứt, tôi phải sử dụng 7-8kg củ đinh lăng làm nguyên liệu vì chỉ sử dụng phần mềm nhất của rễ để làm. Ảnh minh họa

Vài năm trở lại đây, thị trường xuất hiện một sản phẩm khá mới lạ, đó là mứt đinh lăng, được chế biến từ rễ đinh lăng kết hợp với mật ong. Những người từng thưởng thức cho biết, mứt có vị ngọt mát vừa phải, thoang thoảng mùi thuốc bắc và hương sâm đặc trưng, không gắt ngọt như nhiều loại mứt truyền thống.

Về hình thức, mứt đinh lăng có màu vàng sẫm, độ dai cao hơn các loại mứt thông thường. Khi ăn, mứt để lại hậu vị thơm nhẹ, dễ chịu, tạo cảm giác khác biệt rõ rệt so với mứt gừng, mứt dừa hay mứt bí.

Hiện trên thị trường, mứt đinh lăng thường được đóng gói với trọng lượng 200 gram hoặc 500 gram. Mỗi túi 200 gram có giá dao động khoảng 110.000–150.000 đồng, tương đương hơn 550.000 đồng/kg.

So với các loại mứt phổ biến khác, đây được xem là mức giá khá cao. Tuy nhiên, nhờ yếu tố "độc – lạ", nguồn nguyên liệu khó và công dụng tốt cho sức khoẻ, mứt đinh lăng vẫn luôn trong tình trạng khan hàng, đặc biệt vào dịp Tết.

Cách làm cầu kỳ nhưng lợi ích kinh tế cao

 Túi mứt đinh lăng 200g có giá dao động từ 110-150.000 đồng. Tính ra, một kg mứt đinh lăng có giá hơn 550.000 đồng. Ảnh minh họa

Túi mứt đinh lăng 200g có giá dao động từ 110-150.000 đồng. Tính ra, một kg mứt đinh lăng có giá hơn 550.000 đồng. Ảnh minh họa

Công đoạn chế biến mứt đinh lăng rất kỳ công và tốn nhiều thời gian. Đặc biệt, việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu đủ tiêu chuẩn là một thách thức lớn, khiến nhiều người muốn làm mứt cũng gặp khó khăn.

Muốn làm được mứt đinh lăng, trước hết phải chọn những cây đinh lăng trên 5 năm tuổi, bởi chỉ có những cây này mới có loại củ to, rễ to, nhiều thịt và chỉ chọn những củ chính có đường kính từ 2cm mới đảm bảo các hoạt chất trong mứt là tốt nhất.

Đinh lăng được chia làm nhiều loại như đinh lăng lá nhỏ, đinh lăng lá tròn, đinh lăng rang,.. Trong đó, đinh lăng lá nhỏ được trồng và sử dụng nhiều nhất.

Củ đinh lăng sau khi thu hoạch sẽ được rửa sạch để ráo nước sau đó bào lấy phần thịt của củ. Phần thịt này sau đó đem ướp đường khoảng 8-10 tiếng rồi đem sấy khô. Sấy khoảng 3 tiếng sẽ có sản phẩm mứt đinh lăng dùng được.

Tất cả công đoạn làm mứt đều bằng phương pháp thủ công, không có chất bảo quản, không chất tạo màu, không phụ gia và hương liệu. Do đó, mứt được làm từ củ đinh lăng có chứa các hoạt chất có lợi cho cơ thể con người.

Để làm được 1kg mứt phải sử dụng 7-8kg củ đinh lăng làm nguyên liệu. Hơn nữa, vì công đoạn bào thủ công nên rất mất thời gian.

 Rễ đinh lăng được ví như “nhân sâm của người nghèo” - Ảnh minh họa

Rễ đinh lăng được ví như “nhân sâm của người nghèo” - Ảnh minh họa

Đinh lăng thuộc họ Ngũ gia bì, còn được gọi với những cái tên dân dã như cây gỏi cá hay nam dương sâm. Đây là loại cây thân nhỏ, có mùi thơm đặc trưng, thường được trồng phổ biến tại nhiều vùng miền ở Việt Nam nhờ khả năng thích nghi tốt với nhiều loại đất và điều kiện khí hậu.

Hiện nay, đinh lăng có nhiều giống khác nhau như đinh lăng lá nhỏ, đinh lăng lá tròn, đinh lăng răng… Trong đó, đinh lăng lá nhỏ là loại được trồng và sử dụng rộng rãi nhất nhờ hương thơm đậm và giá trị dược liệu cao.

Hầu hết các bộ phận của cây đinh lăng đều có công dụng riêng. Lá đinh lăng thường được dùng làm gia vị trong các món ăn như gỏi cá, món cuốn, giúp tăng hương vị và giảm mùi tanh.

Đáng chú ý nhất là phần rễ – thường được gọi là củ đinh lăng. Với hình dáng và một số đặc tính dược liệu tương đồng với nhân sâm Hàn Quốc hay sâm Ngọc Linh, rễ đinh lăng được ví như "nhân sâm của người nghèo". Theo kinh nghiệm dân gian, rễ đinh lăng thường được thu hoạch vào mùa đông, khi cây đủ từ 4–5 năm tuổi trở lên để đảm bảo chất lượng.

Nguồn: BÁO MỚI

Vịt xào cà pháo: Món mặn quen mà lạ trong bữa trưa văn phòng

on .

Trong mâm cơm Việt, thịt vịt thường gắn liền với các món luộc, nấu cháo hay giả cầy. Tuy nhiên, khi chế biến theo cách xào cùng cà pháo và sốt đậm vị, thịt vịt lại mang đến trải nghiệm khác hẳn khi đậm đà, tròn vị hơn và đặc biệt 'bắt cơm'. Vịt xào cà pháo là món ăn dung hòa giữa chất dân dã và sự biến tấu linh hoạt, phù hợp cho cả bữa cơm gia đình lẫn cơm trưa văn phòng.

Thịt vịt dùng cho món xào thường là phần đùi hoặc ức, có cả nạc lẫn chút mỡ để khi xào không bị khô. Khi sơ chế kỹ và xào đúng cách, thịt vịt mềm, thơm, không còn mùi hôi đặc trưng. Thớ thịt săn lại, thấm sốt, càng thưởng thức càng cảm nhận rõ vị ngọt tự nhiên của thịt gia cầm.

Cà pháo là nguyên liệu tạo điểm nhấn cho món ăn. Khác với cà pháo muối quen thuộc, cà pháo dùng để xào thường chia đôi hoặc chia làm tư, ngâm nước muối loãng để giảm vị hăng. Khi xào chín tới, cà pháo giữ độ giòn nhẹ, thấm sốt và mang vị bùi bùi đặc trưng. Chính sự giòn giòn của cà pháo đã tạo nên sự tương phản thú vị với phần thịt vịt mềm, giúp món ăn không bị đơn điệu.

Bên cạnh cà pháo, món vịt xào thường kết hợp thêm hành tây, rau răm hoặc hành lá. Hành tây giúp tăng độ ngọt tự nhiên và tạo mùi thơm dịu, trong khi rau răm hợp với thịt vịt, giúp cân bằng hương vị và giảm cảm giác béo. Sự kết hợp giữa thịt và rau củ khiến món ăn trở nên hài hòa, dễ ăn hơn dù xào cùng sốt đậm.

Phần sốt xào là yếu tố quyết định độ “cuốn” của món vịt xào cà pháo. Sốt thường tạo nên từ nước mắm, dầu hào, tỏi, hành tím và tiêu xay. Khi xào trên lửa vừa, sốt sánh nhẹ, bám đều lên thịt vịt và cà pháo, tạo màu nâu óng hấp dẫn. Vị mặn ngọt vừa phải giúp làm nổi bật hương vị nguyên liệu, không lấn át mà vẫn đủ đậm đà để ăn cùng cơm trắng.

Vịt xào cà pháo ngon nhất khi dùng nóng, khi đó miếng thịt vịt mềm thấm sốt, cà pháo giòn bùi, thêm chút rau răm thơm nồng tạo nên tổng thể hài hòa, đưa cơm. Đây là món ăn thích hợp cho những bữa cơm cần đổi vị, mang đến cảm giác quen thuộc nhưng không nhàm chán.

 

Theo buacomvanphong, monanngon, shopeefood

Phúc An

Nguồn: https://baomoi.com/vit-xao-ca-phao-mon-man-quen-ma-la-trong-bua-trua-van-phong-c54464075.epi

Bữa trưa giữa tuần thử vị bún mì vàng

on .

Bún mì vàng là một trong những món nước quen thuộc, dễ ăn và xuất hiện ở nhiều quán ăn gia đình lẫn quán bình dân. Thoạt nhìn, tô bún mì vàng có vẻ giản dị với sợi mì vàng óng, nước dùng trong và vài lát thịt, nhưng khi thưởng thức mới cảm nhận được hết cái ngon tròn vị mà món ăn mang lại.

Điểm nổi bật của bún mì vàng nằm ở sợi mì trứng vàng tươi, dai mềm vừa phải, không bị bở cũng không quá cứng. Khi trụng đúng cách, sợi mì giữ độ đàn hồi, thấm nước dùng nhưng vẫn rõ sợi, ăn đến cuối tô vẫn không bị nát. Màu vàng tự nhiên của mì giúp món ăn trông bắt mắt hơn, gợi cảm giác ấm nóng ngay từ ánh nhìn đầu tiên.

Nước dùng là “linh hồn” của món bún mì vàng. Thông thường, nước lèo được hầm từ xương heo hoặc xương gà trong nhiều giờ để tạo độ ngọt thanh tự nhiên. Nước dùng trong, không đục, không quá béo nhưng vẫn đủ đậm đà để làm nền cho toàn bộ món ăn. Khi húp một muỗng nước lèo nóng, vị ngọt dịu lan nhẹ nơi đầu lưỡi, để lại cảm giác dễ chịu chứ không gắt hay nặng mùi gia vị.

Phần ăn kèm của bún mì vàng khá linh hoạt, có thể đi cùng thịt heo xá xíu, thịt gà xé, sườn non hoặc hải sản. Mỗi loại topping lại mang đến một sắc thái riêng, nhưng điểm chung là được chế biến vừa chín tới, giữ độ mềm và không làm át đi vị nước dùng. Một ít hành lá, ngò rí, hành phi rắc lên trên giúp tô bún mì vàng thêm dậy mùi, tròn hương.

Rau ăn kèm cũng góp phần tạo nên sự cân bằng cho món ăn. Giá trụng, hẹ, xà lách hoặc cải xanh giúp tô bún thêm tươi mát, giảm cảm giác ngấy và khiến bữa ăn trở nên nhẹ nhàng hơn. Khi thưởng thức, chỉ cần thêm chút ớt cắt lát, một muỗng sa tế hoặc vài giọt chanh là đã có thể điều chỉnh hương vị theo sở thích riêng.

Bún mì vàng không cầu kỳ nhưng lại ghi điểm nhờ sự hài hòa giữa sợi mì, nước dùng và phần ăn kèm. Đây là món ăn mang đậm tính đời thường, dễ nấu, dễ ăn và phù hợp với nhiều đối tượng, từ trẻ nhỏ đến người lớn tuổi. Một tô bún mì vàng nóng hổi, thơm nhẹ mùi xương hầm, đủ để làm ấm bụng và mang lại cảm giác no ngon cho buổi cơm trưa.

 

Theo amthucvanphong, monanngon, shopeefood

Phúc An

Nguồn: https://baomoi.com/bua-trua-giua-tuan-thu-vi-bun-mi-vang-c54419667.epi

Món ngon ở Cao Bằng, Lạng Sơn: dân dã, đậm đà bản sắc dân tộc

on .

Trong những ngày đông lạnh giá, những món ăn làm ấm lòng người trong từng buổi sáng se lạnh, buổi chiều bảng lảng sương rơi hay những đêm ngọt.

 

Cao Bằng: Món mặn truyền thống, món ngọt dân dã

Từ các món nóng mặn truyền thống, những quà chiều ngọt dân dã đến các món nướng thơm khói…, tất cả góp phần tạo nên bức tranh ẩm thực mùa đông giản dị mà đậm bản sắc.

Bánh cuốn trứng

Món bánh cuốn nóng Cao Bằng.

Một sáng mùa đông, khi sương còn vương trên mái nhà sàn, chỉ cần ghé một quán nhỏ ven đường, thực khách đã có thể ngồi vào chiếc ghế tre nhỏ, thưởng thức bát bánh cuốn trứng ấm nóng. Bánh cuốn làm rất mỏng, mềm dai, cuộn nhân thịt băm và nấm mộc nhĩ. Phần trứng được tráng trực tiếp trên mặt bánh, sau đó cuộn lại gọn gàng, rồi rắc thêm hành phi thơm và chút gia vị. Bát nước chan kèm thường là nước xương ninh lâu vị ngọt thanh, rất hợp với tiết trời lạnh.

Bánh áp chao

Bánh áp chao thịt vịt là món ăn hấp dẫn ở Cao Bằng.

Không kém phần đặc sắc, bánh áp chao là món mặn dân dã mà tinh tế trong ẩm thực Cao Bằng, từ nguyên liệu đơn giản như bột nếp, khoai tầu, thịt vịt lọc thái nhỏ tẩm ướp làm nhân… Sau khi đã có được hỗn hợp bột sánh mịn và thịt vịt đã được nêm tẩm gia vị, lấy một lượng bột vừa đủ vào khuôn, thịt vịt cho vào giữa làm nhân bánh. Thả từ từ bánh vào chảo dầu sôi, chao qua chao lại cho tới khi hai mặt bánh vàng rộm, thơm nức mũi thì vớt ra để ráo mỡ, cắt miếng nhỏ bày lên đĩa và sẵn sàng thưởng thức món đặc sản quê hương này. Bánh áp chao dùng nóng kèm với nộm, rau thơm và nước chấm dấm đường pha chua ngọt.

Tàu trúc

 

Tàu trúc không chỉ là món quà chiều mà còn mang giá trị dinh dưỡng tốt cho sức khỏe. Vỏ quýt trong Đông y được xếp vào nhóm lý khí, điều hòa hệ thống tiêu hóa, tiêu đàm nên được dùng rất phổ biến để chữa các bệnh đường hô hấp và tiêu hóa như: giải cảm, chữa ho, nôn mửa, ăn uống không tiêu, ăn không ngon… Còn đậu xanh có tác dụng thanh nhiệt giải độc, chống tình trạng mờ mắt, giải được nhiều chất độc của thuốc và kim loại.

Bánh coóng phù

Bánh coóng phù của người Cao Bằng.

Bánh trôi là món ẩm thực quen thuộc với nhiều vùng miền, nhưng ở Cao Bằng, người dân tộc Tày gọi là coóng phù (còn có tên khác là phù noòng). Trong tiết trời se lạnh, thưởng thức một bát bánh trôi nóng, thực khách cảm nhận ngay mùi thơm của bột nếp, vị ngọt dịu của nước đường nấu và vị cay ấm của gừng, xua tan cái lạnh mùa đông.

Để tạo màu sắc và hương vị đa dạng, gạo nếp có thể được trộn cùng gấc, lá cẩm hay các nguyên liệu tự nhiên khác. Các viên bánh được nặn thành hình tròn đều tăm tắp vừa đẹp mắt vừa giữ được độ mềm dẻo khi chín. 

Bánh sắn nướng

Bánh sắn nướng, hương vị lạ từ nguyên liệu quen thuộc.

Bánh sắn nướng là món ăn dân dã nhưng khiến lòng người ấm áp ngay từ miếng đầu tiên. Người dân địa phương chọn loại sắn bở, tươi, hấp chín rồi giã nhuyễn, nhào với bột đến khi đạt độ dẻo mềm vừa phải. Bột sắn sau đó được nặn thành những viên hoặc miếng đều đặn, đặt lên vỉ nướng trên than hồng.

Ngô, khoai nướng

Trời đông giá rét, ngô và khoai nướng trở thành món ăn giản dị nhưng khó quên. Trong làn mưa phùn nhẹ, mùi ngô nướng, khoai lang chín vàng thoang thoảng trong không khí, khiến người ta vừa xao xuyến vừa thèm. Những bắp ngô còn nguyên lớp lá xanh, những củ khoai tím hay vàng nâu đặt trên bếp than đỏ rực, chỉ nhìn thôi cũng thấy hơi ấm lan tỏa. Khi bóc lớp vỏ bên ngoài, khoai chín vàng óng, mật khoai chảy ra, vị ngọt tự nhiên và hương thơm nồng ấm khiến bất cứ ai cũng khó lòng cưỡng lại.

Những món đặc sản Lạng Sơn 'đọc tên muốn méo cả mồm'

Dân dã bánh xì ón

Bánh xì ón - một món bánh truyền thống của người dân tộc Tày, Nùng Xứ Lạng. Từ những nguyên liệu bình dị, dân dã như gạo nếp, đỗ xanh, đỗ trắng… người dân đã tạo nên một món bánh dẻo thơm, mang đậm hơi thở quê hương.

Dân dã bánh xì ón Xứ Lạng - Ảnh 1.

Bà Hoàng Thị Đồng, phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn thực hiện các công đoạn làm bánh xì ón

Xì ón là tiếng dân tộc, chỉ một chiếc bánh mềm dẻo, tròn trịa, đầy đặn. Cái tên như nói thay dáng hình chiếc bánh nhỏ nhắn, tròn đầy, mang theo tinh thần gắn bó và mong ước viên mãn trong đời sống người Tày, Nùng. Theo lời kể của người dân, bánh “xì ón” không biết có từ bao giờ, chỉ biết đây là món bánh đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Trước đây, khi cuộc sống còn khó khăn, vất vả, người dân đã sáng tạo ra món bánh này để “đãi” khách vào những dịp như cưới hỏi, lễ, tết. Giờ đây, khi cuộc sống ngày càng phát triển, nhiều người đã làm bánh này để bán hằng ngày, phục vụ nhu cầu của nhiều khách hàng.

Nguyên liệu chính để làm bánh là gạo nếp, đỗ xanh, đỗ trắng hoặc muối lạc. Đặc biệt, bánh được gói trong lá chuối, đây cũng là bí quyết để bánh luôn thơm và giữ được độ dẻo của bánh lâu nhất.

Theo khảo sát của chúng tôi, hiện nay trên địa bàn thành phố Lạng Sơn có khoảng 10 hộ làm bánh xì ón. Không chỉ là món ăn truyền thống, hiện nay, bánh xì ón cũng được nhiều khách hàng ngoài tỉnh ưa chuộng và tìm mua.

Cao sằng

Người dân địa phương cho biết, từ xa xưa, trong quá trình giao lưu thương mại tại Lạng Sơn, người Hoa đã mang một món bánh đặc biệt đến Cao Bằng. Thời gian trôi qua, dân Xứ Lạng biến tấu món ăn này cho phù hợp hơn với khẩu vị của người Việt Nam, từ đó bánh cao sằng ra đời, trở thành món ăn quen thuộc ở đây.

Cái tên cao sằng có ý nghĩa là bánh nhiều tầng (cao có nghĩa là bánh, sằng là tầng). Bánh này gồm các tầng bột xếp lên nhau cho thật cao, độ dày gấp 10 lần so với bánh phở thông thường.

Những món đặc sản Lạng Sơn 'đọc tên muốn méo cả mồm'- Ảnh 1.

Cao sằng - bánh nhiều tầng, món đặc sản Lạng Sơn nổi tiếng. (Ảnh: Vũ Huyền)

Nguyên liệu chính để làm bánh cao sằng là gạo tẻ. Loại gạo trắng và thơm được ngâm, xay nhuyễn, nhào bột rồi dàn đều, hấp trong nồi cách thủy khoảng 40 phút. Bánh được đổ thành các lớp, khi lớp bột đầu tiên chín sẽ đổ lớp thứ hai. Sau khi chín hết lớp thứ hai, bột sẽ đông lại thành bánh, người ta vớt bỏ phần nước bên, phết nhân lên mặt bánh gồm thịt heo băm nhuyễn xào.

Lớp nhân này vừa giữ độ ẩm mượt vừa tăng hương vị đậm đà cho món ăn. Khi ăn, bạn cần thêm chút lạc bùi béo, rau mùi và nước giấm chua ngọt nữa là hoàn hảo.

Bánh coóc

Món bánh này khi mới nghe tên sẽ dễ bị nhầm với bánh coóc mò của người Tày, Nùng Lạng Sơn, nhưng sự thật bánh coóc khá giống với món sủi cảo của Trung Quốc.

Vỏ bánh được làm từ bột gạo bao thai truyền thống. Gạo sau khi ngâm nước qua một đêm sẽ được xay thành bột nước, sau đó chắt nước trong, giữ lại phần đặc của bột để làm vỏ bánh. Bột được xào trên bếp, cho thêm chút mỡ lợn để vỏ bánh không dính và tạo mùi thơm, đến khi bột khô lại, không còn dính nữa là đạt yêu cầu.

Những món đặc sản Lạng Sơn 'đọc tên muốn méo cả mồm'- Ảnh 4.

Nhân bánh gồm thịt lợn vai, mộc nhĩ, nấm hương, hành khô, su hào băm nhỏ. (Ảnh: Báo Lạng Sơn)

Sau khi đảo xong phần bột làm vỏ bánh coóc, người ta tiếp tục nhào nặn cho thật nhuyễn. Bột bánh càng được nhào nặn kỹ thì bánh khi chín sẽ càng mềm và dẻo.

Khi ăn bánh coóc, người ta chan thêm nước dấm chua ngọt, rắc chút lạc rang, măng ớt và ăn kèm với các loại rau thơm.

Phoóng dăm

Đây là một món ăn lâu đời của người dân tộc Tày, Nùng xứ Lạng, nguyên liệu chính là gạo nếp và thịt lợn. Gạo để làm bánh phải là nếp nương Tràng Định, được xay khô rồi nhào bột, hiện nay người ta chủ yếu nhào bằng máy.

Để làm nhân bánh phoóng dăm, người ta cho thịt lợn lên bếp xào khô, thêm mộc nhĩ, nấm hương, miến dong, hạt tiêu… và đảo đều trên bếp lửa trong khoảng từ 15 đến 20 phút cho đến khi thịt se lại, dậy mùi thơm.

Những món đặc sản Lạng Sơn 'đọc tên muốn méo cả mồm'- Ảnh 6.

Món ăn này còn có tên gọi khác là coóng dăm. (Ảnh: Vũ Huyền)

Bánh được ăn cùng canh xương. Người ta không sử dụng xương ống mà nấu bằng xương sườn để tạo hương vị ngọt thanh, hạn chế độ ngậy, béo. Canh xương được nêm nếm gia vị vừa phải, có thể cho thêm rau cải cúc hoặc cải thảo tuỳ sở thích mỗi người.

Nguồn: https://phunu.nld.com.vn/mon-ngon-o-cao-bang-lang-son-dan-da-dam-da-ban-sac-dan-toc-196251223103725843.htm

Đặc sản xứ Nghệ vào vụ lớn nhất năm

on .

Những ngày này, người dân làng Phan Thanh, xã Hợp Minh, tỉnh Nghệ An tất bật với những đơn hàng Tết. Mặc dù làm việc trong thời tiết se lạnh và vất vả nhưng họ đều rất háo hức, mong chờ một cái Tết đầm ấm, sung túc.

Đặc sản lươn đồng làng Phan Thanh, xã Hợp Minh, tỉnh Nghệ An lâu nay đã nổi tiếng gần xa với hương vị thơm ngon, đậm đà, bổ dưỡng, được khách hàng trong nước ưa chuộng và hết lời ca ngợi. Trước đây, Phan Thanh là một làng quê thuần nông, người dân tranh thủ lúc nông nhàn đi thả trúm, bắt lươn cải thiện bữa ăn. Những năm gần đây, nhận thấy nhu cầu tiêu thụ lươn sạch, lươn sơ chế sẵn tăng cao, người dân trong làng đã chuyển hướng. Họ đầu tư máy móc, người dân chuyển sang sơ chế, chế biến sâu, tạo nên một chuỗi giá trị khép kín. 

Đặc sản lươn đồng làng Phan Thanh, xã Hợp Minh, tỉnh Nghệ An lâu nay đã nổi tiếng gần xa với hương vị thơm ngon, đậm đà, bổ dưỡng, được khách hàng trong nước ưa chuộng và hết lời ca ngợi. Trước đây, Phan Thanh là một làng quê thuần nông, người dân tranh thủ lúc nông nhàn đi thả trúm, bắt lươn cải thiện bữa ăn. Những năm gần đây, nhận thấy nhu cầu tiêu thụ lươn sạch, lươn sơ chế sẵn tăng cao, người dân trong làng đã chuyển hướng. Họ đầu tư máy móc, người dân chuyển sang sơ chế, chế biến sâu, tạo nên một chuỗi giá trị khép kín.

Năm 2022, Phan Thanh được nhà nước công nhận là làng nghề chế biến lươn. Đây không chỉ là một danh hiệu, mà là cột mốc đánh dấu sự chuyên nghiệp hóa của một nghề thủ công của làng. Danh tiếng của làng nghề càng được vang xa hơn nữa khi "Tri thức về chế biến món ăn từ lươn ở Nghệ An" được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào đầu tháng 1/2026. Vì vậy, sản phẩm làng Phan Thanh càng được thị trường ưa chuộng, lượng đơn hàng tăng mạnh. Đặc biệt, thời điểm giáp Tết, người dân nơi đây tranh thủ làm ngày, làm đêm để kịp giao cho khách hàng. 

Năm 2022, Phan Thanh được nhà nước công nhận là làng nghề chế biến lươn. Đây không chỉ là một danh hiệu, mà là cột mốc đánh dấu sự chuyên nghiệp hóa của một nghề thủ công của làng. Danh tiếng của làng nghề càng được vang xa hơn nữa khi "Tri thức về chế biến món ăn từ lươn ở Nghệ An" được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào đầu tháng 1/2026. Vì vậy, sản phẩm làng Phan Thanh càng được thị trường ưa chuộng, lượng đơn hàng tăng mạnh. Đặc biệt, thời điểm giáp Tết, người dân nơi đây tranh thủ làm ngày, làm đêm để kịp giao cho khách hàng.

 Theo người dân nơi đây, nghề chế biến lươn làm quanh năm nhưng dịp Tết là vụ lớn nhất trong năm. "Dịp cận Tết, tôi phải thuê thêm 10-15 lao động thời vụ để làm kịp giao cho khách. Mỗi ngày, cơ sở thu mua khoảng 300 - 400kg lươn sống để chế biến. Sản phẩm được đi tiêu thụ khắc các tỉnh thành trên cả nước", anh Nguyễn Minh Thao, SN 1992, trú tại làng Phan Thanh cho biết.

Theo người dân nơi đây, nghề chế biến lươn làm quanh năm nhưng dịp Tết là vụ lớn nhất trong năm. "Dịp cận Tết, tôi phải thuê thêm 10-15 lao động thời vụ để làm kịp giao cho khách. Mỗi ngày, cơ sở thu mua khoảng 300 - 400kg lươn sống để chế biến. Sản phẩm được đi tiêu thụ khắc các tỉnh thành trên cả nước", anh Nguyễn Minh Thao, SN 1992, trú tại làng Phan Thanh cho biết.

 
 
Công việc chế biến lươn trải qua nhiều khâu từ: sơ chế, ướp gia vị, chế biến, đóng gói cho đến giao dịch, vận chuyển. Lươn sau khi được rửa sạch sẽ được cắt bỏ đầu, đuôi, loại bỏ ruột. Tiếp đó, những người thợ sẽ chuyển sang công đoạn gỡ xương. Và công đoạn cuối cùng là ướp lươn với nghệ tươi cùng một số gia vị đặc trưng.
 

Công việc chế biến lươn trải qua nhiều khâu từ: sơ chế, ướp gia vị, chế biến, đóng gói cho đến giao dịch, vận chuyển. Lươn sau khi được rửa sạch sẽ được cắt bỏ đầu, đuôi, loại bỏ ruột. Tiếp đó, những người thợ sẽ chuyển sang công đoạn gỡ xương. Và công đoạn cuối cùng là ướp lươn với nghệ tươi cùng một số gia vị đặc trưng. 

 Lươn cuộn thịt được xem là sản phẩm chạy nhất vào mỗi dịp Tết đến. Nguyên liệu của lươn cuộn gồm: thịt heo nạc được băm nhuyễn, trộn đều với gia vị để làm nhân, sau đó cuộn cùng lươn, buộc chặt bằng hành lá. Mỗi khay có từ 18 - 20 cuộn lươn, được xếp và đưa vào tủ cấp đông từ 2 - 3 tiếng trước khi xuất bán. Đây là sản phẩm khách hàng ưa chuộng để về ăn Tết và làm quà biếu”, bà Nguyễn Thị Mai, trú tại làng Phan Thanh cho biết.

Lươn cuộn thịt được xem là sản phẩm chạy nhất vào mỗi dịp Tết đến. Nguyên liệu của lươn cuộn gồm: thịt heo nạc được băm nhuyễn, trộn đều với gia vị để làm nhân, sau đó cuộn cùng lươn, buộc chặt bằng hành lá. Mỗi khay có từ 18 - 20 cuộn lươn, được xếp và đưa vào tủ cấp đông từ 2 - 3 tiếng trước khi xuất bán. Đây là sản phẩm khách hàng ưa chuộng để về ăn Tết và làm quà biếu”, bà Nguyễn Thị Mai, trú tại làng Phan Thanh cho biết.

 Gia vị sử dụng trong chế biến món lươn Nghệ An thường là những nguyên liệu truyền thống gắn bó với đời sống người dân như: nghệ, hành, ớt, tiêu, mẻ… Trong đó, nghệ không chỉ tạo màu sắc hấp dẫn mà còn góp phần làm dậy mùi, cân bằng hương vị; ớt và tiêu mang đến vị cay nồng đặc trưng – một dấu ấn rõ nét của ẩm thực xứ Nghệ.

Gia vị sử dụng trong chế biến món lươn Nghệ An thường là những nguyên liệu truyền thống gắn bó với đời sống người dân như: nghệ, hành, ớt, tiêu, mẻ… Trong đó, nghệ không chỉ tạo màu sắc hấp dẫn mà còn góp phần làm dậy mùi, cân bằng hương vị; ớt và tiêu mang đến vị cay nồng đặc trưng – một dấu ấn rõ nét của ẩm thực xứ Nghệ.

 Lươn cuộn được buộc chặt bằng hành lá, cho vào vào khay xốp và để trong tủ cấp đông từ 2 đến 3 tiếng. Khi khách hàng mua về, chỉ cần nấu chín trong khoảng 20 - 30 phút là có thể thưởng thức món ăn thơm ngon, hấp dẫn.

Lươn cuộn được buộc chặt bằng hành lá, cho vào vào khay xốp và để trong tủ cấp đông từ 2 đến 3 tiếng. Khi khách hàng mua về, chỉ cần nấu chín trong khoảng 20 - 30 phút là có thể thưởng thức món ăn thơm ngon, hấp dẫn.

 Sau khi chế biến, lươn được đưa vào các kho đông lạnh trước khi đóng gói gửi đi khắp mọi miền cho khách hàng.

Sau khi chế biến, lươn được đưa vào các kho đông lạnh trước khi đóng gói gửi đi khắp mọi miền cho khách hàng.

 Sản phẩm lươn Phan Thanh có mặt khắp mọi miền đất nước và xuất khẩu sang các nước như: Trung Quốc, Thailand, Singapore và một số nước châu Âu.

Sản phẩm lươn Phan Thanh có mặt khắp mọi miền đất nước và xuất khẩu sang các nước như: Trung Quốc, Thailand, Singapore và một số nước châu Âu.

 Bà Nguyễn Phương Thảo, Chủ tịch UBND xã Hợp Minh, cho biết, sản phẩm lươn Phan Thanh hiện được tiêu thụ rộng khắp cả nước và xuất khẩu phục vụ người Việt xa quê. Việc được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia mở ra nhiều cơ hội để làng nghề mở rộng quy mô, phát triển bền vững. Nghề chế biến lươn giữ sinh kế bền vững và góp phần nâng cao đời sống cho người dân địa phương.

Bà Nguyễn Phương Thảo, Chủ tịch UBND xã Hợp Minh, cho biết, sản phẩm lươn Phan Thanh hiện được tiêu thụ rộng khắp cả nước và xuất khẩu phục vụ người Việt xa quê. Việc được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia mở ra nhiều cơ hội để làng nghề mở rộng quy mô, phát triển bền vững. Nghề chế biến lươn giữ sinh kế bền vững và góp phần nâng cao đời sống cho người dân địa phương.

Hà Hằng - Hà Đan


Nguồn: BÁO MỚI