NGÀNH CNTT TUYỂN SINH NHIỀU CHỈ TIÊU NGÀNH CNTT, CNTT VIỆT NHẬT VÀ KHOA HỌC DỮ LIỆU

Tin Tức Khác

Vịt xào cà pháo: Món mặn quen mà lạ trong bữa trưa văn phòng

on .

Trong mâm cơm Việt, thịt vịt thường gắn liền với các món luộc, nấu cháo hay giả cầy. Tuy nhiên, khi chế biến theo cách xào cùng cà pháo và sốt đậm vị, thịt vịt lại mang đến trải nghiệm khác hẳn khi đậm đà, tròn vị hơn và đặc biệt 'bắt cơm'. Vịt xào cà pháo là món ăn dung hòa giữa chất dân dã và sự biến tấu linh hoạt, phù hợp cho cả bữa cơm gia đình lẫn cơm trưa văn phòng.

Thịt vịt dùng cho món xào thường là phần đùi hoặc ức, có cả nạc lẫn chút mỡ để khi xào không bị khô. Khi sơ chế kỹ và xào đúng cách, thịt vịt mềm, thơm, không còn mùi hôi đặc trưng. Thớ thịt săn lại, thấm sốt, càng thưởng thức càng cảm nhận rõ vị ngọt tự nhiên của thịt gia cầm.

Cà pháo là nguyên liệu tạo điểm nhấn cho món ăn. Khác với cà pháo muối quen thuộc, cà pháo dùng để xào thường chia đôi hoặc chia làm tư, ngâm nước muối loãng để giảm vị hăng. Khi xào chín tới, cà pháo giữ độ giòn nhẹ, thấm sốt và mang vị bùi bùi đặc trưng. Chính sự giòn giòn của cà pháo đã tạo nên sự tương phản thú vị với phần thịt vịt mềm, giúp món ăn không bị đơn điệu.

Bên cạnh cà pháo, món vịt xào thường kết hợp thêm hành tây, rau răm hoặc hành lá. Hành tây giúp tăng độ ngọt tự nhiên và tạo mùi thơm dịu, trong khi rau răm hợp với thịt vịt, giúp cân bằng hương vị và giảm cảm giác béo. Sự kết hợp giữa thịt và rau củ khiến món ăn trở nên hài hòa, dễ ăn hơn dù xào cùng sốt đậm.

Phần sốt xào là yếu tố quyết định độ “cuốn” của món vịt xào cà pháo. Sốt thường tạo nên từ nước mắm, dầu hào, tỏi, hành tím và tiêu xay. Khi xào trên lửa vừa, sốt sánh nhẹ, bám đều lên thịt vịt và cà pháo, tạo màu nâu óng hấp dẫn. Vị mặn ngọt vừa phải giúp làm nổi bật hương vị nguyên liệu, không lấn át mà vẫn đủ đậm đà để ăn cùng cơm trắng.

Vịt xào cà pháo ngon nhất khi dùng nóng, khi đó miếng thịt vịt mềm thấm sốt, cà pháo giòn bùi, thêm chút rau răm thơm nồng tạo nên tổng thể hài hòa, đưa cơm. Đây là món ăn thích hợp cho những bữa cơm cần đổi vị, mang đến cảm giác quen thuộc nhưng không nhàm chán.

 

Theo buacomvanphong, monanngon, shopeefood

Phúc An

Nguồn: https://baomoi.com/vit-xao-ca-phao-mon-man-quen-ma-la-trong-bua-trua-van-phong-c54464075.epi

Hưng Yên vào mùa đánh bắt 'lộc sông'

on .

Những ngày này, khi sắc đỏ hoa gạo thắp lửa ven sông, khúc sông Hồng chảy qua phường Phố Hiến, tỉnh Hưng Yên lại bước vào mùa rộn ràng nhất trong năm - mùa cá mòi. Từ sáng sớm đến chiều muộn, thậm chí cả khi đêm xuống, mặt sông không còn vẻ tĩnh lặng thường ngày mà trở nên sống động với tiếng máy nổ, tiếng gõ mạn lanh canh và tiếng thả lưới rì rào liên hồi của ngư dân.

Cá mòi được đánh bắt bằng lưới truyền thống tại khúc sông Hồng chạy qua phường Phố Hiến, tỉnh Hưng Yên.

Cá mòi được đánh bắt bằng lưới truyền thống tại khúc sông Hồng chạy qua phường Phố Hiến, tỉnh Hưng Yên.

Mùa cá mòi thường bắt đầu từ tháng cuối Giêng, chính vụ trùng với thời điểm hoa gạo nở đỏ ven sông. Mùa khai thác kéo dài khoảng hai tháng, kết thúc vào tháng 3 âm lịch.

Cá mòi đã đi vào thi ca, khi “lộc sông” được nhà văn Nguyễn Huy Thiệp khắc họa trong truyện ngắn “Chảy đi sông ơi”: một khúc sông buổi sớm với dải sương mù bảng lảng, tiếng gõ đuổi cá lanh canh và tiếng sóng vỗ oàm oạp bên mạn thuyền. Đến nay, cảnh tượng ấy vẫn còn hiện hữu trong đời sống đánh bắt cá mòi của ngư dân.

 Sau khi đánh bắt, cá mòi được các tiểu thương thu mua ngay tại bến phà Vũ Điện, thuộc phường Phố Hiến (Hưng Yên).

Sau khi đánh bắt, cá mòi được các tiểu thương thu mua ngay tại bến phà Vũ Điện, thuộc phường Phố Hiến (Hưng Yên).

Trên chiếc thuyền nan đã cũ, phía trên uốn vòm bằng tre, nứa để chắn nắng mưa cùng những ngư cụ truyền thống với các tay lưới, ông Trần Văn Chính ở xã Nam Sang (tỉnh Ninh Bình) cho biết đã đi đánh cá mòi từ sáng sớm tới chiều tối, miệt mài với nghề gắn bó cả đời. Dù đã 73 tuổi, ông vẫn còn khá khỏe mạnh; mỗi ngày đánh bắt cho thu nhập khoảng 500.000 đồng đến 1 triệu đồng, tùy thuộc vào may rủi của nghề chài lưới.

Tuy nhiên, ông cho biết, dù rất tích cực di chuyển địa điểm thả lưới nhưng năm nay lượng cá mòi ít hơn năm trước. Nếu như năm 2025, mỗi ngày ông có thể đánh bắt khoảng 30 kg thì nay chỉ còn 15 - 20 kg. Với kinh nghiệm nhiều năm gắn bó sông nước, ông cho rằng biến đổi thời tiết, khí hậu là một trong những nguyên nhân khiến nguồn cá suy giảm.

 Cá mòi được coi là đặc sản của vùng đất Hưng Yên.

Cá mòi được coi là đặc sản của vùng đất Hưng Yên.

Khúc sông Hồng chảy qua phường Phố Hiến cũng giống nhiều khúc sông khác nhưng không hiểu sao lại là nơi có nhiều cá mòi hơn cả. Ngư dân của tỉnh Hưng Yên, tỉnh Ninh Bình đều tụ về đây đánh bắt cả ngày lẫn đêm. Thường ngày, sông Hồng vốn chỉ có tiếng sóng dập dềnh vỗ mạn thuyền, nay trở nên nhộn nhịp khi các mũi thuyền cập bờ, kết thúc hành trình đánh cá mòi. Trên bờ kè cũng trở nên sống động với cảnh mua bán tấp nập, người vận chuyển đá lạnh, nhiên liệu lên thuyền cho chuyến đánh bắt mới. Nhịp sống cứ thế nối tiếp, không ngừng nghỉ theo từng con nước.

Vừa cập mũi thuyền tại bến phà Vũ Điện (Phố Hiến) vào giữa trưa khi ánh mặt trời đứng bóng, vợ chồng người thuyền chài Trần Văn Đào, xã Nam Sang nhanh tay vớt những con cá mòi còn tươi trong khoang thuyền, cho vào rổ rồi mang lên bờ bán cho thương lái đợi sẵn.

 Ông Trần Văn Đào, xã Nam Sang (Ninh Bình) đang gỡ những con cá mòi mắc lưới. Ảnh Mạnh Khánh/TTXVN

Ông Trần Văn Đào, xã Nam Sang (Ninh Bình) đang gỡ những con cá mòi mắc lưới. Ảnh Mạnh Khánh/TTXVN

Xong công việc, rít một điếu thuốc lào, ông Đào chia sẻ về những vất vả cũng như sự may rủi của nghề săn cá mòi. Ông nói: “Có khi người đi trước thả một mẻ lưới chỉ được vài cân, nhưng người đi sau lại vớ được cả đàn cá to tới chục cân. Nói chung vẫn là may hơn khôn, vì cá mòi đi theo đàn, không đi lẻ”. Ông Đào cho biết thêm, theo kinh nghiệm nhiều năm, khi có gió Đông thường đánh bắt được nhiều cá hơn.

 Sau khi đánh bắt, cá mòi được các tiểu thương thu mua ngay tại bến phà Vũ Điện, thuộc phường Phố Hiến (Hưng Yên).

Sau khi đánh bắt, cá mòi được các tiểu thương thu mua ngay tại bến phà Vũ Điện, thuộc phường Phố Hiến (Hưng Yên).

Dù mùa cá mòi giúp người dân thuyền chài có thu nhập cao hơn nhưng nghề này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Theo ông Trần Văn Đào, không ít trường hợp ngư dân đang thả lưới giữa sông thì bị tàu hàng lớn làm đứt lưới, gây thiệt hại từ vài trăm nghìn đến hàng triệu đồng. Nguy hiểm hơn, với những chiếc thuyền nhỏ đánh bắt theo phương thức truyền thống, khi gặp gió to, sóng lớn, nguy cơ lật thuyền, hư hỏng ngư cụ, thậm chí ảnh hưởng đến tính mạng là điều luôn hiện hữu.

Theo nhiều gia đình thuyền chài, chi phí đầu tư đánh cá mòi theo phương thức thông thường khoảng 40-50 triệu đồng, bao gồm đóng thuyền, gắn động cơ và mua lưới. Với những tàu công suất lớn, sử dụng lưới gắn điện, chi phí có thể lên tới 400 - 500 triệu đồng. Tuy nhiên, hình thức đánh bắt bằng lưới điện mang tính tận diệt đã bị cơ quan chức năng cấm và xử lý.

 Cá mòi được đánh bắt bằng lưới truyền thống tại khúc sông Hồng chạy qua phường Phố Hiến (Hưng Yên).

Cá mòi được đánh bắt bằng lưới truyền thống tại khúc sông Hồng chạy qua phường Phố Hiến (Hưng Yên).

Do sản lượng cá mòi năm nay giảm nên giá bán có tăng, dao động từ 30.000 - 50.000 đồng/kg tại bến. Sau khi đưa về chợ, cá được phân loại; loại cá to (khoảng 10 con/kg) được cung cấp cho nhà hàng hoặc vận chuyển đi các tỉnh, thành phố; cá nhỏ hơn được bán cho người tiêu dùng hoặc chế biến thành chả cá mòi.

 Chị Trần Thị Trang, số 4 Nguyễn Thiện Thuật (phường Phố Hiến) đang chế biến cá mòi để đưa đi ra thị trường. Ảnh Mạnh Khánh/TTXVN

Chị Trần Thị Trang, số 4 Nguyễn Thiện Thuật (phường Phố Hiến) đang chế biến cá mòi để đưa đi ra thị trường. Ảnh Mạnh Khánh/TTXVN

Là người nhiều năm thu mua cá mòi để chế biến và tiêu thụ, chị Trần Thị Trang, số 4 Nguyễn Thiện Thuật (phường Phố Hiến), cho biết trước đây cá mòi thường được rán giòn để ăn. Tuy nhiên, nắm bắt thị hiếu người tiêu dùng, chị đã chọn cá to, béo để kho và bán ra thị trường. Sản phẩm cá mòi kho dân dã được nhiều người ưa chuộng, coi như một đặc sản. Ngoài ra, cá còn được ướp nghệ, đóng gói hút chân không, ướp lạnh để thuận tiện cho việc tiêu thụ và làm quà biếu. Nhờ đó, mỗi vụ cá mòi, chị tiêu thụ được vài tạ cá, góp phần tăng thu nhập.

Ngày nay, sau khi sơ chế, cá mòi được đóng gói hút chân không để tiện cho việc vận chuyển đi xa và bảo quản.

Ngày nay, sau khi sơ chế, cá mòi được đóng gói hút chân không để tiện cho việc vận chuyển đi xa và bảo quản.

Từ một món ăn dân dã của cư dân ven sông, cá mòi nay đã trở thành đặc sản mang dấu ấn riêng của vùng đất Phố Hiến. Là loại cá tự nhiên, cá mòi được đánh giá khá sạch, giàu canxi, được nhiều người tiêu dùng lựa chọn. Giữa dòng chảy bền bỉ của sông Hồng, mùa cá mòi không chỉ mang lại sinh kế mà còn góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa, lao động và ký ức của một vùng quê trù phú.

Bài và ảnh: Mạnh Khánh (TTXVN)


Nguồn: BÁO MỚI

Khi đặc sản trở thành sứ giả du lịch

on .

Từ hồng treo gió, trà, cà phê... đến hải sản biển xanh, mỗi đặc sản Lâm Đồng không chỉ để thưởng thức mà còn kể câu chuyện về đất và người, trở thành sứ giả đưa du lịch địa phương vươn xa.

 

 Đoàn du khách nước ngoài tham quan và nghe câu chuyện về nghề sản xuất nước mắm tồn tại hơn 300 năm

Đoàn du khách nước ngoài tham quan và nghe câu chuyện về nghề sản xuất nước mắm tồn tại hơn 300 năm

Không chỉ là thưởng thức

Sau sáp nhập, Lâm Đồng được biết đến là vùng đất sở hữu nguồn nông sản phong phú, đa dạng bậc nhất cả nước với các sản phẩm đặc trưng như: rau, hoa, trà atisô, cà phê, tơ tằm, hồng treo gió, mắc ca, sầu riêng, thanh long, nước mắm Phan Thiết và hải sản… Hiện tại, toàn tỉnh có 858 nhãn hiệu mang thương hiệu “Đà Lạt - Kết tinh kỳ diệu từ đất lành” và hơn 1.000 sản phẩm OCOP được chứng nhận. Từ thế mạnh nông nghiệp là bước tạo đà quan trọng để du lịch Lâm Đồng có cơ hội “chắp cánh”. Bởi đặc sản quà tặng và hoạt động du lịch có mối quan hệ mật thiết với nhau.

Cầm trên tay hộp hồng treo gió - đặc sản của Đà Lạt, chị Nguyễn Thu Vân (TP Hồ Chí Minh) chia sẻ, gia đình chị đến Đà Lạt đúng mùa hồng chín, được tham quan cơ sở sản xuất và nghe câu chuyện làm nên những trái hồng dẻo, ngọt, kết tinh từ tâm huyết người nông dân và công nghệ Nhật Bản. Trải nghiệm này vừa thú vị, vừa giúp du khách hiểu hơn về công việc tỉ mỉ của người dân cao nguyên.

Đi qua các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh, dễ nhận thấy sau mỗi hành trình tham quan, trải nghiệm, nhiều du khách đều mang về những món quà kỷ niệm hoặc tìm thưởng thức cho bằng được các món ăn đặc sản mang đậm bản sắc địa phương. Nếu như hoa atisô ở Đà Lạt đã làm nên danh sách dài những món ăn độc đáo khiến du khách trầm trồ, thì khi đến vùng Lâm Đồng biển xanh, du khách cũng nên một lần thử các món ăn được chế biến từ hoa thanh long.

Bên cạnh trái tươi và các sản phẩm chế biến quen thuộc, các món ăn từ hoa thanh long đang tạo sự tò mò, thích thú cho du khách. Bà Nguyễn Thanh Tuyền - chủ nhà hàng Hoa Bá Vương (phường Phan Thiết) cho biết, từ nguồn búp hoa thanh long thường bị bỏ đi, nhà hàng đã nghiên cứu chế biến thành các món như: súp, lẩu hoa thanh long hầm gà. Cách làm này không chỉ mang tính sáng tạo, làm phong phú ẩm thực địa phương mà còn góp phần tận dụng nông sản, nâng cao thu nhập cho người trồng thanh long.

Mà còn biết kể chuyện

Không chỉ nổi tiếng với thanh long, ẩm thực miền biển phong phú, độc đáo cũng đang trở thành thế mạnh, góp phần tạo giá trị gia tăng cho du lịch Lâm Đồng. Là địa phương vừa có biển, vừa có núi và cao nguyên, tỉnh sở hữu nhiều điểm đến mới mẻ, đa dạng. Cùng với đó, nền ẩm thực giàu bản sắc, khó trộn lẫn đang được Lâm Đồng chú trọng khai thác như một lợi thế trong phát triển du lịch.

TS Võ Thị Kim Sa - Phó Hiệu trưởng Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn cho biết, tại một lớp tập huấn về du lịch cộng đồng ở Phan Thiết: “Ẩm thực ngày càng trở thành trải nghiệm văn hóa của du khách. Bên cạnh thưởng thức món ăn, du khách muốn nghe câu chuyện về nguồn gốc, cách chế biến để hiểu hơn bản sắc vùng miền. Từ đó, nhiều địa phương, hợp tác xã có đặc sản gắn với du lịch nông nghiệp đã tăng cường liên kết với doanh nghiệp lữ hành, đưa khách đến tham quan và trải nghiệm sản phẩm”.

Có thể thấy, du lịch đóng vai trò quan trọng là kênh quảng bá, giao lưu, trao đổi ẩm thực, kết nối, tiêu thụ các đặc sản địa phương. Đồng thời, với hơn 1.000 sản phẩm OCOP có mặt ở khắp các địa phương trong tỉnh, cũng góp phần giải bài toán về quà tặng du lịch và làm phong phú thêm cho hành trình khám phá, trải nghiệm của du khách khi đến tham quan Lâm Đồng. Những đặc sản đó đã và đang góp phần làm hấp dẫn thêm cho hành trình khám phá, trải nghiệm của du khách; sớm định hình thương hiệu riêng và chắp cánh cho du lịch Lâm Đồng bay xa hơn nữa.

Những món ăn đặc trưng của Lâm Đồng gồm: mực một nắng, hải sản khô, lẩu thả, cua huỳnh đế, cá liệt dầu, cá thát lát, nước mắm Phan Thiết, bánh rế, cốm sữa, chuối Laba, cà phê Lâm Đồng, các loại trà, mắc ca, hạt điều, bơ… Điều mà mỗi người dân Lâm Đồng có thể làm là kể cho du khách nghe “câu chuyện” phía sau mỗi một món ăn của quê hương mình, để du khách có thể hiểu hết được giá trị của ẩm thực.

Minh Vân .

Nguồn: https://baomoi.com/khi-dac-san-tro-thanh-su-gia-du-lich-c54120887.epi

 

Làng miến dong Quỳnh Phiêng vào vụ Tết

on .

Những ngày giáp Tết, khi sương sớm còn quấn quanh triền núi Lóng Phiêng (Sơn La), bản Quỳnh Phiêng đã rộn ràng thức giấc. Khắp các nếp nhà sàn, bếp lửa đỏ hồng bập bùng, mùi dong riềng quyện trong làn khói mỏng. Trên những khoảng sân rộng, hàng trăm phên tre xếp nối nhau, phơi đầy những sợi miến trắng trong.

Không khí tất bật ấy báo hiệu một mùa làm ăn bận rộn của làng nghề miến dong Quỳnh Phiêng nơi được coi là “thủ phủ” miến dong của đồng bào Thái ở Sơn La.

 Những gùi củ dong được người Thái địu trên lưng mang về sản xuất miến.

Những gùi củ dong được người Thái địu trên lưng mang về sản xuất miến.

Mang nghề theo bước chân tái định cư

Gần 20 năm trước, khi nhường đất cho công trình thủy điện Sơn La, người dân Quỳnh Phiêng rời quê cũ, mang theo hành trang không chỉ là đồ đạc, mà còn là bí quyết làm miến dong đã gắn bó bao đời. Trên vùng đất mới Lóng Phiêng, từ những củ dong trồng trên nương rẫy, nghề cũ lại hồi sinh, bền bỉ như chính con người nơi đây.

 Trên vùng đất mới Lóng Phiêng, nghề làm miến lại hồi sinh.

Trên vùng đất mới Lóng Phiêng, nghề làm miến lại hồi sinh.

Bà Nguyễn Thị Hưởng, một trong những người gắn bó lâu năm với nghề, vừa thoăn thoắt tráng bánh miến vừa chia sẻ: “Ngày xưa làm miến chủ yếu để ăn trong nhà, biếu họ hàng, đãi khách dịp Tết. Ai ngờ bây giờ miến dong lại thành kế sinh nhai chính của cả bản”.

Theo bà Hưởng, làm miến không khó nhưng đòi hỏi sự kiên nhẫn và khéo léo. Từ khâu chọn củ dong già, rửa sạch, nghiền, lọc bột đến tráng bánh, phơi miến… mỗi công đoạn đều quyết định chất lượng sợi miến. “Riêng tráng bột là khó nhất, phải đều tay, mỏng vừa đủ, bánh chín tới mới cho ra sợi miến dai, trong”, bà Hưởng nói.

 Tráng bột được đánh giá là công đoạn khó nhằn nhất trong quy trình làm miến, yêu cầu người tráng phải đều tay, sao cho lớp bánh mỏng vừa phải.

Tráng bột được đánh giá là công đoạn khó nhằn nhất trong quy trình làm miến, yêu cầu người tráng phải đều tay, sao cho lớp bánh mỏng vừa phải.

“Mỏ vàng” từ sợi miến quê

Nếu như trước đây, nhiều lao động trẻ ở Quỳnh Phiêng phải rời bản đi làm thuê dưới xuôi, thì nay nghề miến dong đã giữ chân họ ở lại. Cây dong riềng, tưởng chừng mộc mạc, đã trở thành “mỏ vàng” của bản làng.

 Cây dong riềng, tưởng chừng mộc mạc, đã trở thành “mỏ vàng” của bản làng.

Cây dong riềng, tưởng chừng mộc mạc, đã trở thành “mỏ vàng” của bản làng.

 Nghề làm miến dong một mặt giúp ổn định kinh tế cho người dân, một mặt hạn chế tình trạng ly hương từng phổ biến ở khu vực nông thôn miền núi.

Nghề làm miến dong một mặt giúp ổn định kinh tế cho người dân, một mặt hạn chế tình trạng ly hương từng phổ biến ở khu vực nông thôn miền núi.

Tại hộ ông Nguyễn Văn Bắc, một hộ gia đình có thâm niên làm miến hơn 15 năm, không khí sản xuất những ngày cận Tết luôn rộn ràng. Ông Bắc cho biết: “Nhà tôi có ba lao động chính. Ngày thường mỗi người cũng kiếm được khoảng 300.000 đồng. Vào dịp cao điểm Tết, thu nhập có thể lên đến 1 triệu đồng/người/ngày. Quan trọng nhất là cả nhà được ở gần nhau, không phải đi làm ăn xa mà vẫn có thu nhập ổn định”.

Theo thống kê của xã Lóng Phiêng, hiện bản Quỳnh Phiêng có hàng chục hộ làm miến dong thường xuyên, tạo việc làm cho hàng trăm lao động tại chỗ. Nghề miến không chỉ giúp người dân cải thiện thu nhập mà còn góp phần giữ gìn cấu trúc gia đình, hạn chế tình trạng ly hương - một vấn đề từng phổ biến ở nhiều vùng nông thôn miền núi.

Giữ “chất thật” giữa thị trường cạnh tranh

Điểm làm nên thương hiệu miến dong Quỳnh Phiêng chính là cam kết “3 không”: không hóa chất tẩy trắng, không chất bảo quản, không pha trộn. Những sợi miến trắng trong, có độ đục tự nhiên theo từng mẻ nắng, là minh chứng rõ nhất cho chất lượng.

Ông Lê Văn Đoan nhận định: “Trong bối cảnh thực phẩm bẩn, thực phẩm công nghiệp tràn lan, người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến sản phẩm sạch, có nguồn gốc rõ ràng. Đây là lợi thế lớn của miến dong truyền thống”.

 Sợi miến dong Quỳnh Phiêng trắng trong, không chứa chất bảo quản.

Sợi miến dong Quỳnh Phiêng trắng trong, không chứa chất bảo quản.

Tuy nhiên, để đứng vững trước áp lực từ hàng công nghiệp giá rẻ, người dân Quỳnh Phiêng đã chủ động thay đổi. Máy rửa củ, máy lọc bột, máy cắt sợi được đầu tư, giúp giảm sức lao động, tăng năng suất nhưng vẫn giữ nguyên công đoạn phơi nắng tự nhiên bởi đây là yếu tố quyết định độ dai, mềm của sợi miến.

Khi sợi miến lên sàn thương mại điện tử

Điểm mới mẻ và đáng chú ý nhất của làng nghề miến dong Quỳnh Phiêng trong vài năm gần đây chính là sự nhạy bén với công nghệ số. Không còn bó hẹp ở chợ phiên hay thương lái truyền thống, nhiều hộ dân đã tự học cách bán hàng qua mạng xã hội, đặc biệt là TikTok và Facebook.

 Sản phẩm miến khô đóng gói được vận chuyển đi khắp nơi, nhờ vào các sàn thương mại điện tử.

Sản phẩm miến khô đóng gói được vận chuyển đi khắp nơi, nhờ vào các sàn thương mại điện tử.

Chị Trần Thị Hương, một người trẻ trong bản, hào hứng kể: “Ban đầu mình chỉ quay video cho vui, quay cảnh tráng bánh, phơi miến. Không ngờ nhiều người xem, hỏi mua. Bây giờ mỗi ngày chốt được vài chục đơn, gửi đi Hà Nội, Hải Phòng, thậm chí cả miền Trung”. Những video mộc mạc, chân thật về quy trình làm miến truyền thống lại chính là “chìa khóa” giúp sản phẩm tiếp cận người tiêu dùng đô thị những người đang tìm kiếm thực phẩm sạch, rõ nguồn gốc. Từ màn hình điện thoại, sợi miến dong Quỳnh Phiêng đã vượt núi, băng đèo, có mặt trong nhiều gian bếp hiện đại.

 Sợi miến dong Quỳnh Phiêng đã vượt núi, băng đèo, có mặt trong nhiều gian bếp hiện đại.

Sợi miến dong Quỳnh Phiêng đã vượt núi, băng đèo, có mặt trong nhiều gian bếp hiện đại.

Theo các chuyên gia kinh tế nông thôn, mô hình làng nghề như Quỳnh Phiêng là minh chứng rõ nét cho hướng phát triển bền vững: kết hợp giữa truyền thống và hội nhập. Khi người dân làm chủ được chuỗi giá trị từ nguyên liệu, sản xuất đến tiêu thụ, lợi ích kinh tế sẽ được giữ lại tại cộng đồng.

Việc không phải đi làm ăn xa giúp giảm áp lực xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa, đồng thời tạo điều kiện để thế hệ trẻ tiếp nối nghề truyền thống theo cách mới. Trẻ em trong bản lớn lên cùng phên miến, cùng câu chuyện làm nghề của cha mẹ, hình thành niềm tự hào về sản phẩm quê hương.

Rời Quỳnh Phiêng trong buổi chiều muộn, khi nắng xuân còn vương trên những sợi miến trắng muốt, dễ dàng cảm nhận một mùa xuân ấm no đang hiện hữu nơi đây. Những phên miến không chỉ phơi nắng, phơi sương mà còn phơi cả hy vọng về một tương lai bền vững. Giữa đại ngàn Tây Bắc, sợi miến dong Quỳnh Phiêng lặng lẽ nối dài hành trình từ bếp lửa bản làng đến không gian số, trở thành biểu tượng cho sự thành công khi truyền thống gặp gỡ công nghệ và khi người nông dân tự tin bước vào hội nhập bằng chính giá trị chân thật của mình.

CTV Thu Hà/VOV.VN

Nguồn: https://baomoi.com/lang-mien-dong-quynh-phieng-vao-vu-tet-c54254403.epi?utm_source=dapp&utm_campaign=share

Rộn ràng mùa cá nục ở Quảng Ngãi

on .

Mùa cá nục vào chính vụ, ngư dân Quảng Ngãi tất bật vươn khơi, tàu cá đầy khoang nối nhau cập bờ.

 Những ngày này, vùng biển Châu Thuận Biển (xã Đông Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) rộn ràng từ sáng sớm. Từng đoàn tàu cá của ngư dân Quảng Ngãi chở đầy ắp cá nục nối đuôi nhau cập bờ, báo hiệu mùa đánh bắt đã vào vụ chính.

Những ngày này, vùng biển Châu Thuận Biển (xã Đông Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) rộn ràng từ sáng sớm. Từng đoàn tàu cá của ngư dân Quảng Ngãi chở đầy ắp cá nục nối đuôi nhau cập bờ, báo hiệu mùa đánh bắt đã vào vụ chính.

 Ngay từ lúc tinh mơ, không khí tại khu vực bãi ngang đã nhộn nhịp. Khi các tàu cá chở đầy ắp cá nục vừa cập bến, ngư dân nhanh tay chuyển cá từ khoang tàu lên các khay nhựa, đưa lên thúng rồi vận chuyển vào bờ.

Ngay từ lúc tinh mơ, không khí tại khu vực bãi ngang đã nhộn nhịp. Khi các tàu cá chở đầy ắp cá nục vừa cập bến, ngư dân nhanh tay chuyển cá từ khoang tàu lên các khay nhựa, đưa lên thúng rồi vận chuyển vào bờ.

 
 
 Trên mặt biển, hàng chục thúng nhỏ chở theo đầy giỏ cá nục tươi rói liên tục cập bờ.

Trên mặt biển, hàng chục thúng nhỏ chở theo đầy giỏ cá nục tươi rói liên tục cập bờ.

Các tàu cá đậu cách bờ vài trăm mét. Ngư dân trên tàu liên tục xúc cá vào các khay nhựa, chuyển lên thúng. 

Các tàu cá đậu cách bờ vài trăm mét. Ngư dân trên tàu liên tục xúc cá vào các khay nhựa, chuyển lên thúng.

Từ thúng con, cá được chuyển lên các xe kéo rồi kéo lên bờ. 

Từ thúng con, cá được chuyển lên các xe kéo rồi kéo lên bờ.

 Trên bãi, thương lái chờ sẵn để phân loại, cân cá và thu mua ngay tại chỗ. Khung cảnh nhộn nhịp, tất bật như một chợ cá ngay trên bãi biển.

Trên bãi, thương lái chờ sẵn để phân loại, cân cá và thu mua ngay tại chỗ. Khung cảnh nhộn nhịp, tất bật như một chợ cá ngay trên bãi biển.

 Các ngư dân cho biết, những tàu đánh bắt cá nục gần bờ bắt đầu ra khơi từ khoảng 14 giờ chiều. Họ đánh bắt xuyên đêm và trở về bờ bán cá vào sáng hôm sau. Để đánh được cá nục, các tàu cá di chuyển cách bờ từ 15 đến 20 hải lý, tại vùng biển quanh đảo Lý Sơn.

Các ngư dân cho biết, những tàu đánh bắt cá nục gần bờ bắt đầu ra khơi từ khoảng 14 giờ chiều. Họ đánh bắt xuyên đêm và trở về bờ bán cá vào sáng hôm sau. Để đánh được cá nục, các tàu cá di chuyển cách bờ từ 15 đến 20 hải lý, tại vùng biển quanh đảo Lý Sơn.

Mùa cá nục bắt đầu từ khoảng tháng Giêng âm lịch và kết thúc vào khoảng tháng 8 âm lịch. 

Mùa cá nục bắt đầu từ khoảng tháng Giêng âm lịch và kết thúc vào khoảng tháng 8 âm lịch.

 Ngư dân Võ Cu (xã Đông Sơn) cho biết: "Đang bắt đầu mùa cá nục. Các tàu đánh bắt gần bờ khoảng 20 hải lý để tìm luồng cá nục. Gặp trúng luồng cá có thể thu được vài tấn cá là bình thường".

Ngư dân Võ Cu (xã Đông Sơn) cho biết: "Đang bắt đầu mùa cá nục. Các tàu đánh bắt gần bờ khoảng 20 hải lý để tìm luồng cá nục. Gặp trúng luồng cá có thể thu được vài tấn cá là bình thường".

 Theo lời ông Cu, chỉ sau một đêm vươn khơi, nếu trúng luồng cá nục, mỗi tàu có thể thu được từ 2-4 tấn cá. Giá bán hiện dao động từ 20.000 đến 80.000 đồng/kg ngay tại bến, mang lại nguồn thu đáng kể cho chủ tàu và thuyền viên.

Theo lời ông Cu, chỉ sau một đêm vươn khơi, nếu trúng luồng cá nục, mỗi tàu có thể thu được từ 2-4 tấn cá. Giá bán hiện dao động từ 20.000 đến 80.000 đồng/kg ngay tại bến, mang lại nguồn thu đáng kể cho chủ tàu và thuyền viên.

Cá sau khi được chuyển lên bờ sẽ được thương lái thu mua nhanh chóng. Những khay cá tươi rói sẽ được chuyển đi tiêu thụ ở nhiều địa phương lân cận. 

Cá sau khi được chuyển lên bờ sẽ được thương lái thu mua nhanh chóng. Những khay cá tươi rói sẽ được chuyển đi tiêu thụ ở nhiều địa phương lân cận.

 Năm nay, thời tiết thuận lợi, cá về nhiều nên ngư dân càng có điều kiện bám biển, bám ngư trường. Nguồn thu từ cá nục không chỉ giúp các gia đình trang trải chi phí sinh hoạt, đầu tư tái sản xuất mà còn tiếp thêm động lực để bà con vươn khơi, giữ nghề, giữ biển.

Năm nay, thời tiết thuận lợi, cá về nhiều nên ngư dân càng có điều kiện bám biển, bám ngư trường. Nguồn thu từ cá nục không chỉ giúp các gia đình trang trải chi phí sinh hoạt, đầu tư tái sản xuất mà còn tiếp thêm động lực để bà con vươn khơi, giữ nghề, giữ biển.

Di Linh

Nguồn: BÁO MỚI