NGÀNH CNTT TUYỂN SINH NHIỀU CHỈ TIÊU NGÀNH CNTT, CNTT VIỆT NHẬT VÀ KHOA HỌC DỮ LIỆU

Tin tức

Băn khoăn vì AI – bài học từ Chile

on .

Chile hiện đang trải qua một cuộc tranh cãi liệu có nên đầu tư vào công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) để khỏi bỏ lỡ chuyến tàu AI hay đây chỉ là xu hướng nhất thời, gây tốn kém tài nguyên.

Chính phủ Chile đặt mục tiêu biến đất nước thành trung tâm AI của Nam Mỹ. Ảnh minh họa: TL

Chính phủ Chile đặt mục tiêu biến đất nước thành trung tâm AI của Nam Mỹ. Ảnh minh họa: TL

Đất nước Nam Mỹ 20 triệu dân này trước đây chưa bao giờ là trung tâm của các tranh luận về công nghệ toàn cầu nên có thể xem tình hình này là một ví dụ sinh động về cách các nước xoay xở giải bài toán hơn thua trong cuộc đua AI.

Nổi bật là các cuộc biểu tình phản đối các công ty công nghệ lớn xây dựng các trung tâm dữ liệu ở Chile. Ở phía Bắc Santiago, cư dân địa phương phản đối Amazon xây một trung tâm được cho là phá hủy môi trường. Gần đó người dân cũng phản đối Google xây một trung tâm dữ liệu có thể ảnh hưởng đến một vùng đất ngập nước. Ở ngoại ô phía Nam Santiago, một nhóm hoạt động vì môi trường khác ngăn cản Google xây trung tâm dữ liệu thứ hai ở Chile, cuối cùng Google đành phải rút lui.

Rodrigo Cavieres, thành viên của tổ chức môi trường MOSACAT, nói: AI hiện trở thành một thứ thời thượng. Người ta ưu tiên trung tâm dữ liệu hơn người dân. Ngược lại, Tổng thống Chile Gabriel Boric tuyên bố trong một bài diễn văn đất nước ông phải thích ứng với cuộc cách mạng AI. Chính quyền Chile đã nỗ lực đơn giản hóa thủ tục để kêu gọi các công ty công nghệ đầu tư xây dựng các trung tâm dữ liệu đồng thời tìm cách tích hợp công cụ AI vào công việc điều hành hàng ngày.

Sự đối chọi này cũng diễn ra ở nhiều nước khác khắp thế giới. Nhiều nước - từ các Tiểu vương quốc Ảrập Thống nhất đến Hà Lan - phải cân nhắc giữa khả năng đầu tư quá mức, gây tác động xấu lên môi trường cũng như sự phản đối của dân chúng với viễn cảnh bị bỏ rơi đằng sau trong một làn sóng công nghệ mới. Ở Chile, như một giải pháp dung hòa, Tổng thống Boric định hướng đưa các trung tâm dữ liệu lên phía Bắc ít dân cư hơn nhưng người dân cũng lo ngại sẽ ảnh hưởng đến hệ sinh thái sa mạc Atacama.

Hiện nay Chile đã có 33 trung tâm dữ liệu, dự kiến sẽ tăng gấp đôi vào năm 2030, biến nước này thành một trung tâm AI của khu vực. Vào năm 2015 khi Google xây trung tâm dữ liệu đầu tiên ở ngoại ô Santiago, nơi này tiêu thụ 50 lít nước mỗi giây, tương đương với mức tiêu thụ nước của 8.000 hộ dân Chile. Trước đây nước được dùng để làm mát máy chủ sau đó bốc hơi bay mất. Nay công nghệ mới tìm cách tái sử dụng nước nhưng lượng nước tiêu thụ vẫn còn rất lớn. Có những video cho thấy vùng đất ngập nước trước đây nay khô cạn, ngay cả trong mùa mưa.

Khi Google công bố kế hoạch xây trung tâm dữ liệu thứ hai vào năm 2019, nhiều người dân địa phương kỳ vọng dự án sẽ tạo ra nhiều việc làm. Thực tế, trung tâm dữ liệu tuyển dụng rất ít nhân viên nhưng tiêu thụ đến 228 lít nước mỗi giây, tương đương mức tiêu thụ của 40.000 hộ gia đình. Rodrigo Vallejos, một nhà hoạt động môi trường nhận định: “Cuối cùng, chúng tôi có nguy cơ biến thành nhà kho AI cho thế giới”.

Chile đã có kinh nghiệm hợp tác quốc tế có lợi cho đôi bên. Thập niên 1990, các nhà thiên văn trên thế giới muốn xây dựng các đài quan sát thiên văn ở sa mạc Chile nhằm tận dụng bầu trời trong vắt ở đây. Chính quyền Chile lúc đó ra quy định: 10% thời gian sử dụng các đài thiên văn này phải được phân bổ cho các nhà nghiên cứu địa phương. Nhờ vậy Chile hiện đang dẫn đầu thế giới về thiên văn.

Nay Sebastían Howard, một quan chức của Bộ Khoa học, Công nghệ Chile, cũng muốn một điều tương tự cho công nghệ AI. Ông lập kế hoạch điều hướng các trung tâm dữ liệu lên Antofagasta, một thành phố sa mạc phía Bắc, có nhiều nguồn năng lượng mặt trời. “Nếu các công ty muốn đầu tư vào đây, chúng tôi cần tìm cách để bảo đảm cơ sở hạ tầng này cũng được chia sẻ cho các trường đại học và viện nghiên cứu của chúng tôi” - ông nói với tờ New York Times.

Hiện nay kế hoạch này vẫn còn vướng từ cả hai phía. Người dân lo ngại thay đổi quy định về môi trường sẽ làm giảm tính minh bạch về mức tiêu thụ điện, nước của các dự án mới. Ngược lại, người ta chưa rõ liệu các công ty công nghệ có mặn mà với địa điểm mới hay không. Đặt các trung tâm dữ liệu cách xa Santiago đến 680 dặm sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề, kể cả độ trễ đường truyền Internet đặc biệt trong công nghệ AI giọng nói hay AI video.

Hiện Chile vẫn đang đàm phán với các công ty công nghệ và hy vọng sẽ có kết luận sau cùng về bản kế hoạch mới vào tháng sau. Nếu thành công, Chile sẽ tiên phong trong mô hình mời các công ty công nghệ vào xây hạ tầng cho AI đồng thời giúp doanh nghiệp và trường đại học trong nước tiếp cận hạ tầng này với chi phí thấp nhất.

Nguyễn Vũ


Nguồn: https://baomoi.com/ban-khoan-vi-ai-bai-hoc-tu-chile-c53643798.epi?utm_source=dapp&utm_campaign=share

 

Tội phạm trực tuyến, một 'đại dịch' đang lây lan khắp toàn cầu

on .

Báo cáo của Liên minh Chống lừa đảo Toàn cầu (GASA) cho thấy 57% người trưởng thành trên toàn thế giới đã trải qua ít nhất một vụ lừa đảo trực tuyến trong năm qua, với thiệt hại tài chính lên tới 442 tỷ USD. Như một đại dịch, các hoạt động tội phạm trực tuyến đang lan khắp toàn cầu, trở thành thách thức an ninh phi truyền thống nhức nhối nhất hiện nay.

Quy mô khổng lồ và thủ đoạn đa dạng

Bộ Tư pháp Mỹ hôm 14/10 đã truy tố Chen Zhi - nhà sáng lập kiêm Chủ tịch Prince Holding Group (Prince Group), một tập đoàn đa quốc gia có trụ sở tại Campuchia - vì tội âm mưu lừa đảo qua mạng viễn thông và “rửa tiền”.

Cáo trạng cho biết, đối tượng 37 tuổi mang quốc tịch Anh và Campuchia này đã chỉ đạo Prince Group vận hành các trung tâm lừa đảo giam giữ và sử dụng lao động cưỡng bức trên khắp Campuchia, dưới bình phong là các khu phức hợp giải trí và khách sạn. Những người bị giam giữ trong các khu này buộc phải tham gia các vụ lừa đảo online để chiếm đoạt hàng tỷ USD từ các nạn nhân tại Mỹ và nhiều quốc gia khác.

 Thiệt hại tài chính do tội phạm mạng gây ra trên toàn cầu trong năm 2024 lên tới 442 tỷ USD. Ảnh: Fyncom.

Thiệt hại tài chính do tội phạm mạng gây ra trên toàn cầu trong năm 2024 lên tới 442 tỷ USD. Ảnh: Fyncom.

Cùng với quyết định truy tố, Bộ Tư pháp Mỹ cũng ra lệnh tịch thu hơn 127.000 bitcoin, trị giá khoảng 15 tỷ USD, được xác định là tiền thu được từ hoạt động phạm tội của Chen Zhi. Khối tài sản khổng lồ này cho thấy quy mô khủng khiếp của hoạt động lừa đảo trực tuyến, nhất là khi Chen Zhi không phải ông trùm duy nhất trong thế giới tội ác online.

Tại Đông Nam Á, theo Sáng kiến Toàn cầu chống Tội phạm có Tổ chức Xuyên quốc gia (GI-TOC), hàng trăm khách sạn, sòng bạc và khu phức hợp tư nhân được điều hành bởi các mạng lưới tội phạm có tổ chức đang sử dụng hàng trăm nghìn người trong ngành công nghiệp lừa đảo trực tuyến.

Đáng nói, nạn nhân không chỉ bao gồm những người bị lừa đảo trực tuyến mà còn cả chính những kẻ thực hiện hành vi đó. Bởi đa số trong hàng trăm nghìn “nhân viên” của các trung tâm lừa đảo là những người bị lừa bán vào đây. Dù đến từ khắp nơi trên thế giới, họ đều chung một “lộ trình”: Tin vào những lời giới thiệu về công việc hấp dẫn nên mắc bẫy bọn “buôn người”.

Bị bán vào những “trại lừa đảo”, họ phải chịu đựng sự đe dọa, bạo lực, bóc lột tình dục và điều kiện làm việc khắc nghiệt như nô lệ thời hiện đại. Không lừa được đủ chỉ tiêu yêu cầu của ông chủ, họ sẽ bị đánh đập, tra tấn và thậm chí bị sát hại hoặc bán đi như những “món hàng” tươi sống.

 Do tính ẩn danh của những kẻ thực hiện, hoạt động tội phạm mạng rất khó truy vết. Ảnh: GASA.

Do tính ẩn danh của những kẻ thực hiện, hoạt động tội phạm mạng rất khó truy vết. Ảnh: GASA.

Bằng thủ đoạn quản lý cưỡng ép dã man như thời trung cổ, những trung tâm này hoạt động cực kỳ “năng suất”. Theo ước tính của Cơ quan Phòng, chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC), các vụ lừa đảo trên mạng - bao gồm lừa đảo đầu tư tình cảm kiểu “mổ lợn”, gian lận tiền điện tử, mạo danh và tống tiền tình dục - do những “trại lừa đảo” ở Đông Nam Á gây ra thiệt hại khoảng 30 đến 40 tỷ USD mỗi năm cho các nạn nhân.

Nhưng Đông Nam Á cũng không phải điểm nóng duy nhất của tội phạm mạng. Tại Ấn Độ, Trung tâm điều phối tội phạm mạng nước này (I4C) cho biết, khoảng một năm trở lại đây, Ấn Độ đã ghi nhận hàng triệu trường hợp lừa đảo trực tuyến và đã có hàng nghìn nghi phạm bị bắt giữ. Theo I4C, thiệt hại do gian lận mạng tại Ấn Độ có thể lên tới 1,2 nghìn tỷ rupee trong năm 2025, tương đương khoảng 0,7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của đất nước.

Tại Canada, các khu vực xung quanh Montreal được xác định là một trung tâm chính của các mạng lưới lừa đảo “người thân đang gặp nạn” nhắm vào người cao tuổi Mỹ. Các nhóm này thường sử dụng các “tổng đài lừa đảo” ở Canada để gọi điện, giả làm con cháu hoặc luật sư của con cháu để yêu cầu nạn nhân nộp tiền bảo lãnh khẩn cấp. Còn tại Colombia, các băng nhóm tội phạm thường sử dụng các ứng dụng hẹn hò trực tuyến để dụ dỗ du khách nước ngoài (chủ yếu là nam giới), sau đó đánh thuốc mê họ bằng các chất như scopolamine (còn gọi là “hơi thở của quỷ”), rồi cướp tài sản.

Theo Tổ chức cảnh sát hình sự quốc tế (INTERPOL), những trại lừa đảo đã mở rộng tới khắp các châu lục. Trong một báo cáo năm ngoái, cơ quan này cảnh báo rằng Tây Phi đang nổi lên như một trong những trung tâm khu vực mới cho tội phạm kỹ thuật số, bên cạnh Trung Mỹ và Trung Đông, với ví dụ là vụ triệt phá một trung tâm lừa đảo ở Namibia, nơi có gần 100 thanh niên đang làm việc như nô lệ tại đây.

Những tội ác kể trên mới chỉ là một phần của hoạt động tội phạm trực tuyến toàn cầu. Một mảng khác cũng đang nở rộ và đem lại “doanh thu” rất lớn là tấn công mạng. Chỉ trong năm 2024, các cuộc tấn công mã độc để chiếm đoạt tài khoản, tống tiền và những vụ lừa đảo đầu tư tiền mã hóa…. trên thế giới đã đem lại cho tội phạm mạng tới gần 20 tỷ USD, theo báo cáo của Cục điều tra Liên bang Mỹ (FBI). Tất nhiên, nạn nhân cũng vô cùng đa dạng, từ các công dân Mỹ cho tới những nhà đầu tư châu Á, các triệu phú ở châu Phi hay những cơ quan chính phủ Nam Mỹ.

 Chen Zhi, đối tượng vừa bị Mỹ truy tố vì tội lừa đảo qua mạng và “rửa tiền”, gây hại cho công dân Mỹ.

Chen Zhi, đối tượng vừa bị Mỹ truy tố vì tội lừa đảo qua mạng và “rửa tiền”, gây hại cho công dân Mỹ.

Rất khó truy vết, ngăn chặn và triệt phá

Một trong những đặc điểm của tội phạm trực tuyến là tính ẩn danh của hung thủ, khiến việc truy vết vô cùng khó khăn, nhất là khi bằng chứng điện tử liên quan phải được truy cập nhanh chóng trước khi tội phạm có cơ hội tiêu hủy hoặc xóa khỏi hệ thống.

Sự phát triển của công nghệ cũng đang đem lại cho các băng nhóm tội phạm những công cụ số đắc lực. Văn phòng Liên hợp quốc về Ma túy và Tội phạm (UNODC) cho biết những kẻ lừa đảo đang sử dụng công nghệ deepfake để "thực hiện các vụ lừa đảo với tỷ lệ thành công đáng báo động.

Theo UNODC, từ năm 2022 đến năm 2023, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đã chứng kiến mức tăng 1.530% về gian lận deepfake, khiến một số quốc gia - bao gồm Malaysia, Singapore và Indonesia - phải đưa ra cảnh báo về các vụ lừa đảo deepfake. Công nghệ này giúp những kẻ lừa đảo thực hiện gian lận đầu tư, tạo nội dung khiêu dâm deepfake và thực hiện các âm mưu mạo danh cảnh sát, người nổi tiếng và thành viên gia đình. Tội phạm cũng đã sử dụng công nghệ này để vượt qua các hệ thống xác minh kỹ thuật số, gây ra mối đe dọa nghiêm trọng cho các tổ chức tài chính.

Những kẻ lừa đảo cũng sử dụng các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) như một phần trong các chiến dịch kỹ thuật xã hội của chúng. Tổ chức Cảnh sát hình sự châu Âu (EUROPOL) nhấn mạnh rằng các LLM như ChatGPT giúp kẻ lừa đảo tạo ra những thông điệp nghe có vẻ chân thực hơn để chiếm được lòng tin của nạn nhân và thuyết phục họ đầu tư "nhanh hơn, chân thực hơn nhiều và ở quy mô lớn hơn đáng kể".

Việc tạo ra các LLM mới như FraudGPT - một bot AI có sẵn trên dark web được thiết kế chuyên biệt để viết các trang lừa đảo, email lừa đảo, và thậm chí tạo ra các công cụ bẻ khóa mật khẩu - cho phép ngay cả những kẻ chỉ có hiểu biết cơ bản về công nghệ cũng thực hiện được các phi vụ lừa đảo tinh vi.

 Cảnh sát Trung Quốc tiếp nhận những người bị bắt do làm việc trong một trung tâm lừa đảo trực tuyến tại phía bắc Myanmar. Ảnh: SCMP.

Cảnh sát Trung Quốc tiếp nhận những người bị bắt do làm việc trong một trung tâm lừa đảo trực tuyến tại phía bắc Myanmar. Ảnh: SCMP.

Nhờ công nghệ tiên tiến, các tổ chức tội phạm giờ đây không chỉ lừa đảo nạn nhân một cách nhanh chóng và hiệu quả, khiến các phi vụ của chúng trở nên béo bở hơn mà thậm chí, chúng có thể tự động hóa tương tác với nạn nhân, qua đó mở rộng quy mô lừa đảo với tốc độ chưa từng có.

Bên cạnh đó, những biến động địa chính trị đang tạo ra những khu vực bất ổn, thiếu sự kiểm soát của nhà nước nhưng lại là mảnh đất an toàn cho tội phạm mạng. Chẳng hạn như những vùng biên giới phía bắc Myanmar - nơi các lực lượng ly khai chống chính phủ kiểm soát - đang trở thành điểm nóng tập trung rất nhiều trung tâm lừa đảo trực tuyến.

Tất nhiên, các trung tâm này cần có “công nhân”. Dữ liệu gần đây từ nền tảng xã hội dân sự Freedom Collaborative cho thấy những kẻ “buôn người” hiện đã mở rộng tầm hoạt động, không chỉ tìm kiếm các nạn nhân từ châu Á, châu Âu hay châu Mỹ mà còn nhắm đến cả châu Phi để có thể cung cấp đủ “nhân lực” cho các khu phức hợp lừa đảo mạng. Theo báo cáo cập nhật xu hướng tội phạm mới được INTERPOL công bố, chỉ trong vòng 5 năm qua (tính đến tháng 3/2025), nạn nhân từ 66 quốc gia đã bị buôn bán vào các trung tâm lừa đảo trực tuyến và không một châu lục nào không ảnh hưởng.

Dòng chảy “buôn người” cùng các trung tâm lừa đảo trực tuyến đang mọc lên như nấm sau mưa này không dễ để triệt phá bởi sự phân mảnh của pháp luật quốc tế và những rào cản trong cơ chế thực thi pháp luật khi tội phạm vượt biên, dùng hạ tầng ở nhiều nước. Khác biệt về pháp luật, năng lực thực thi tại các nước cũng như việc thiếu vắng những cơ chế trao đổi thông tin nhanh giữa các quốc gia, tổ chức quốc tế…. khiến việc điều tra xuyên biên giới gặp rất nhiều rào cản.

“Một tội phạm mạng ở Đông Âu có thể điều khiển máy chủ ở Đông Nam Á, sử dụng tài khoản ngân hàng ở châu Phi và tấn công nạn nhân tại châu Mỹ”, ông Jurgen Stock - Tổng thư ký INTERPOL giải thích. “Chúng ta đang đối mặt với một cấu trúc tội phạm phi quốc gia, trong khi cơ quan thực thi pháp luật vẫn bị ràng buộc trong biên giới quốc gia”.

 Trung tâm chỉ huy INTERPOL tại Rwanda, nơi điều phối chiến dịch tăng cường an ninh mạng ở châu Phi. Theo Interpol, rất cần sự hợp tác quốc tế để triệt phá tội phạm trực tuyến.

Trung tâm chỉ huy INTERPOL tại Rwanda, nơi điều phối chiến dịch tăng cường an ninh mạng ở châu Phi. Theo Interpol, rất cần sự hợp tác quốc tế để triệt phá tội phạm trực tuyến.

Hợp tác toàn cầu là đòi hỏi cấp thiết

Chính bởi những thách thức kể trên mà việc hợp tác toàn cầu - với sự phối hợp đa phương, đa nền tảng - trong cuộc chiến chống lại tội phạm mạng đang trở thành nhu cầu cấp thiết hơn bao giờ hết. “Những thay đổi về công nghệ và sự gia tăng nhanh chóng về quy mô và khối lượng của tội phạm có tổ chức đã thúc đẩy sự ra đời của hàng loạt cách thức mới để lừa đảo người dân vô tội, doanh nghiệp và thậm chí cả chính phủ. Với sự phát triển của AI và tiền điện tử, tình hình sẽ chỉ trở nên tồi tệ hơn nếu không có hành động khẩn cấp”, Tổng thư ký INTERPOL Jurgen Stock nhấn mạnh trong một hội nghị ở London.

“Điều quan trọng là không có nơi ẩn náu an toàn nào cho những kẻ lừa đảo tài chính hoạt động. Chúng ta phải lấp đầy những khoảng trống hiện có và đảm bảo việc chia sẻ thông tin giữa các ngành và xuyên biên giới là chuẩn mực, chứ không phải là ngoại lệ”.

Và, không chỉ có các cơ quan chính phủ hay tổ chức cảnh sát quốc tế, ngay cả các định chế tài chính và những tập đoàn công nghệ, các nền tảng truyền thông xã hội cũng cần tham gia tích cực vào việc ngăn chặn tội phạm mạng. Đường đi của “tiền bẩn” và các hoạt động “rửa tiền” sẽ không thể dễ dàng nếu có thêm những cơ chế giám sát, báo cáo chặt chẽ cũng như chia sẻ thông tin kịp thời.

Hoặc như phân tích của tạp chí The Diplomat, nếu phần mềm nhận dạng khuôn mặt, mô hình trò chuyện, thuật toán hẹn hò hoặc mạng lưới quảng cáo của một tập đoàn công nghệ hay nền tảng mạng xã hội bị gián tiếp liên quan đến những hành vi lạm dụng này, họ cần phải đối diện nguy cơ bị coi là đồng phạm.

“Khi người tiêu dùng và cơ quan quản lý không còn phân biệt giữa “nhà cung cấp cơ sở hạ tầng trung lập” và “kẻ đồng lõa” nữa, họ sẽ chỉ nhìn thấy những hệ thống gây hại. Nói cách khác, càng nhiều vụ lừa đảo quy mô lớn thành công, tài khoản của các nền tảng công nghệ, hệ thống thanh toán và đối tác càng chịu thiệt hại. Và, cách duy nhất để tránh vòng xoáy tổn hại danh tiếng đó là chủ động nhận biết và kiểm soát rủi ro”, The Diplomat nhấn mạnh.

Cũng theo phân tích của tạp chí hàng đầu về địa chính trị này, các công ty công nghệ phải hợp tác chặt chẽ với các nhóm xã hội dân sự, cơ quan thực thi pháp luật và các tổ chức tài chính. Đây là những nhóm và những người đang ở tuyến đầu trong cuộc chiến, những người hiểu rõ các dấu hiệu tội phạm mạng hoặc buôn người trông như thế nào.

Và, khi các nền tảng truyền thông xã hội phát hiện ra rủi ro, họ phải xử lý chúng một cách minh bạch và cẩn trọng, báo cáo công khai về các dấu hiệu nghi vấn, đồng thời xây dựng các lộ trình để nạn nhân nhận được sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật thay vì chỉ đơn giản là cắt đứt nguồn thông tin xấu độc.

Và cuối cùng, việc giám sát phải được thực hiện xuyên suốt chuỗi cung ứng. Các nhà cung cấp cơ sở hạ tầng mạng, trung tâm dữ liệu và nhà cung cấp nên được yêu cầu kiểm tra các dấu hiệu lạm dụng, đồng thời các công ty phải theo dõi dòng tiền để đảm bảo họ không gián tiếp tài trợ hoặc tạo điều kiện cho các mạng lưới lừa đảo.

Trong bối cảnh hoạt động lừa đảo trực tuyến xuyên quốc gia đang phát triển với tốc độ chóng mặt, nỗ lực ngăn chặn và triệt phá cũng đối diện những thách thức mới. Khi những kẻ buôn người ngày càng thiết kế ra những chiêu trò dụ dỗ nạn nhân tinh vi hơn, khi những kẻ lừa đảo không ngừng tìm kiếm và khai thác các điểm yếu xuyên biên giới, thì các cơ quan quản lý cũng cần phải hành động nhanh chóng không kém để phản ứng với những kịch bản mới. Từ phối hợp với các nền tảng truyền thông xã hội, định chế tài chính cho đến kết nối hoạt động triệt phá của các quốc gia khác nhau..., tất cả đều cần được tích hợp vào một nỗ lực chung là chặn đứng hoạt động tội phạm mạng.

Và, để đảm bảo rằng hoạt động kể trên diễn ra hiệu quả thì các cơ chế phối hợp cũng như những cam kết quốc tế, chẳng hạn như Công ước Liên hợp quốc về phòng, chống tội phạm mạng (Công ước Hà Nội), chính là những trụ cột quan trọng trong cuộc chiến chống lại thách thức an ninh phi truyền thống nhức nhối này

Nguyễn Khánh

Nguồn: https://baomoi.com/toi-pham-truc-tuyen-mot-dai-dich-dang-lay-lan-khap-toan-cau-c53637018.epi?utm_source=dapp&utm_campaign=share

 

Hơn 300.000 cuộc tấn công khai thác lỗ hổng nhắm vào doanh nghiệp Việt chỉ trong nửa đầu năm

on .

Đây là số vụ khai thác lỗ hổng trong doanh nghiệp tại Việt Nam mà Kaspersky đã ngăn chặn trong 6 tháng đầu năm...

 Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Dữ liệu mới nhất từ Kaspersky cho thấy nhiều lỗ hổng bảo mật trong mạng lưới doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa được khắc phục. Thực trạng này khiến doanh nghiệp tiếp tục nằm trong tầm ngắm của tội phạm mạng.

Trong nửa đầu năm 2025, Kaspersky đã ngăn chặn hơn 301.880 cuộc tấn công khai thác lỗ hổng nhắm vào các doanh nghiệp tại Việt Nam, với trung bình khoảng 1.600 vụ mỗi ngày.

Con số này đặt Việt Nam vào vị trí thứ hai trong khu vực Đông Nam Á, chỉ sau Indonesia với 524.657 vụ. Các quốc gia khác trong khu vực lại có con số thấp hơn đáng kể, gồm Thái Lan với 88.966 vụ, Philippines với 50.895 vụ và Singapore với 38.719 vụ.

Tấn công khai thác (exploit) là hình thức tấn công mạng lợi dụng các lỗ hổng bảo mật, lỗi phần mềm hoặc hệ điều hành để xâm nhập trái phép vào hệ thống. Nếu không được khắc phục kịp thời, những lỗ hổng này sẽ trở thành “cánh cửa mở” cho kẻ tấn công chiếm quyền kiểm soát dữ liệu và tài nguyên của doanh nghiệp.

 

Theo báo cáo khác của Kaspersky, trong quý 2/2025, hầu hết các lỗ hổng chưa được vá trong sản phẩm Microsoft Office là mục tiêu phổ biến của các cuộc tấn công khai thác trên toàn cầu. Kaspersky cũng ghi nhận một số vụ tấn công nhắm vào nền tảng Windows.

Ngoài ra, các nền tảng low-code/no-code (LCNC) và framework của các ứng dụng AI cũng đang trở thành mục tiêu của tin tặc. Những công nghệ này, mặc dù mang lại sự tiện lợi và hiệu quả cho doanh nghiệp, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nếu không được bảo mật đúng cách. Tin tặc có thể lợi dụng các lỗ hổng trong những công cụ này để chiếm đoạt quyền truy cập hệ thống, sau đó nâng quyền kiểm soát để duy trì quyền chiếm dụng lâu dài trong mạng lưới doanh nghiệp.

Nền tảng low-code/no-code (LCNC) là các công cụ phát triển phần mềm cho phép người dùng xây dựng ứng dụng thông qua giao diện trực quan với thao tác kéo - thả đơn giản, mà không cần kiến thức lập trình truyền thống.

Nhờ đó, người không chuyên và cả đội ngũ công nghệ thông tin chuyên nghiệp đều có thể dễ dàng, nhanh chóng tạo các trang web và ứng dụng di động từ các mẫu có sẵn, đồng thời kết nối chúng qua các công cụ đồ họa đơn giản.

Ông Adrian Hia, Giám đốc Điều hành khu vực châu Á - Thái Bình Dương tại Kaspersky nhận định: “Việt Nam là quốc gia đang phát triển với tốc độ nhanh chóng, với nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) cùng các tập đoàn lớn tích cực ứng dụng công nghệ để tối ưu hóa quy trình và nâng cao hiệu suất làm việc. Tuy nhiên, sự tiện lợi luôn song hành cùng rủi ro. Càng nhiều doanh nghiệp sử dụng những công cụ này, nguy cơ bị tin tặc khai thác lỗ hổng để tấn công càng lớn".

Một phát hiện khác từ Kaspersky cho thấy, trong sáu tháng đầu năm 2025, các doanh nghiệp tại Thái Lan phải đối mặt với 2.524.439 mối đe dọa trực tuyến, đứng đầu trong khu vực Đông Nam Á. Tiếp đến là Malaysia và Indonesia lần lượt xếp sau với 1.703.788 và 1.626.984 vụ.

 

Việt Nam xếp ở vị trí thấp hơn với tổng cộng 1.174.407 mối đe dọa trực tuyến. Mối đe dọa trực tuyến (Web threats) là thuật ngữ chỉ các chương trình độc hại có khả năng tấn công người dùng trong quá trình truy cập Internet. Không chỉ giới hạn ở các hoạt động trực tuyến, mối đe dọa này còn có thể gây hại ở bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình sử dụng internet.

Trong nửa đầu năm 2025, các cuộc tấn công ransomware (mã độc tống tiền) tiếp tục gây ảnh hưởng đến một nhóm nhỏ người dùng doanh nghiệp tại Việt Nam. Thực trạng này không nằm ngoài xu hướng chung của toàn cầu, khi tin tặc chuyển mục tiêu tấn công sang các tổ chức có giá trị cao, thay vì triển khai hàng loạt trên diện rộng. Theo báo cáo của Kaspersky, chỉ có 0,31% người dùng doanh nghiệp tại Việt Nam ghi nhận bị tấn công ransomware.

 

Tuy nhiên, tỷ lệ nhỏ này phản ánh xu hướng tấn công của tin tặc hiện nay. Thay vì tập trung phát tán mã độc trên diện rộng, chúng chuyển hướng sang các mục tiêu có giá trị cao hơn. Điều này giải thích cho số vụ việc ghi nhận giảm, nhưng mức độ thiệt hại trong mỗi cuộc tấn công lại nghiêm trọng hơn.

Ông Ngô Tấn Vũ Khanh, Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam của Kaspersky, nhận định: “Hiện nay, sự gia tăng của các nhóm ransomware nhắm vào doanh nghiệp lớn và các hệ thống hạ tầng trọng yếu quốc gia đang là dấu hiệu đáng chú ý trong bức tranh an ninh mạng Việt Nam”.

Với quy mô tổ chức phức tạp và khối lượng dữ liệu khổng lồ, mạng lưới doanh nghiệp thường tồn động nhiều điểm yếu bảo mật, khiến chúng trở thành mục tiêu hàng đầu của tội phạm mạng.

Các lĩnh vực như tài chính, công nghệ, dịch vụ công và y tế đặc biệt dễ ‘rơi vào tầm ngắm’ của kẻ xấu, bởi đây là nơi lưu trữ lượng dữ liệu có giá trị cao, nơi bất kỳ sự cố nào cũng có thể gây ra tác động nghiêm trọng về kinh tế và xã hội.

Bạch Dương

Nguồn: https://baomoi.com/hon-300-000-cuoc-tan-cong-khai-thac-lo-hong-nham-vao-doanh-nghiep-viet-chi-trong-nua-dau-nam-c53613037.epi

Internet tê liệt: Thế giới sẽ ra sao?

on .

Một sự cố tại trung tâm dữ liệu ở bang Virginia (Mỹ) mới đây khiến hàng triệu người mất kết nối tạm thời với các dịch vụ trực tuyến, từ email đến video, đã gióng lên hồi chuông cảnh báo: Internet, hệ thống tưởng chừng bất khả chiến bại, thực ra rất mong manh.

 Thảm họa Internet có thể khởi phát từ một lỗi dây chuyền trong các giao thức cũ kỹ.

Thảm họa Internet có thể khởi phát từ một lỗi dây chuyền trong các giao thức cũ kỹ. 

Internet hiện là huyết mạch của đời sống hiện đại, chi phối gần như mọi lĩnh vực: liên lạc, thương mại, y tế, tài chính và quản trị. Thế nhưng, đằng sau mạng lưới toàn cầu khổng lồ ấy lại là hệ thống hạ tầng và phần mềm ra đời từ hàng chục năm trước, nay đang phải gánh lượng dữ liệu vượt xa dự tính ban đầu. Chỉ cần một mắt xích gặp sự cố như thiên tai, lỗi phần mềm hoặc tấn công mạng cũng có thể tạo ra hiệu ứng domino khiến cả hệ thống tê liệt.

Theo The Guardian (Anh), các chuyên gia cảnh báo kịch bản “Ngày Internet sập nguồn” hoàn toàn có thể xảy ra. Một cơn bão lớn tại bang Iowa có thể phá hủy cụm trung tâm dữ liệu của Google (nơi vận hành hàng triệu tài khoản Gmail và YouTube). Cùng lúc, đợt nắng nóng cực đoan ở miền Đông Mỹ làm gián đoạn cụm máy chủ “US East-1” của Amazon Web Serviecs (AWS), trung tâm dữ liệu lớn nhất thế giới, lưu trữ dữ liệu cho hàng loạt doanh nghiệp, cơ quan và chính phủ.

Nếu những sự cố như vậy xảy ra đồng thời, Signal, Netflix, Slack, ngân hàng trực tuyến và các thiết bị nhà thông minh có thể đồng loạt ngừng hoạt động. Với hơn 60% dịch vụ điện toán đám mây toàn cầu nằm trong tay 3 “ông lớn” Amazon, Google và Microsoft, việc một trong số họ gặp trục trặc cũng đủ khiến Internet toàn cầu chao đảo.

Ngoài rủi ro vật lý, mối lo còn nằm ở phần mềm cốt lõi của Internet. Những giao thức nền tảng như DNS (hệ thống định danh tên miền) và BGP (giao thức định tuyến biên giới) được ví như “sổ địa chỉ” và “bản đồ đường đi” của mạng toàn cầu, vẫn dựa trên cấu trúc từ thập niên 1980. Một lỗi nghiêm trọng ở tầng này có thể làm toàn bộ Internet sụp đổ chỉ trong vài phút.

Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng khả năng này rất thấp. “Internet được thiết kế để tồn tại ngay cả trong chiến tranh hạt nhân”- giáo sư Steven Murdoch (Đại học University College London) cho biết. Các tuyến cáp quang dưới biển vẫn bị đứt khoảng 150-200 lần mỗi năm, nhưng hệ thống luôn tự động chuyển hướng dữ liệu để duy trì kết nối.

Dẫu vậy, khi thế giới ngày càng phụ thuộc vào dịch vụ đám mây tập trung và trí tuệ nhân tạo, nguy cơ mất kết nối quy mô lớn vẫn tăng lên. Chỉ một lỗi thuật toán hay một đợt tấn công mạng đồng loạt cũng đủ khiến nền kinh tế toàn cầu tê liệt trong chốc lát.

 Nguồn: https://baomoi.com/internet-te-liet-the-gioi-se-ra-sao-c53613392.epi

Cách nhận biết video thật hay do AI tạo

on .

Khi Sora AI cho phép bất kỳ ai tạo video giả mạo siêu thực, việc nhận biết đâu là thật – đâu là giả (deepfake) trở thành kỹ năng sống còn trong thời đại số.

Nếu bạn từng lướt mạng xã hội, rất có thể đã bắt gặp hình ảnh hoặc video do AI tạo ra. Nhiều người từng bị đánh lừa, như video lan truyền về những chú thỏ nhảy trên tấm bạt lò xo. Nhưng Sora – ứng dụng chị em của ChatGPT do OpenAI phát triển – đang đưa video AI lên một tầm cao mới, khiến việc nhận biết nội dung giả mạo trở nên cấp thiết.

 Các công cụ video AI khiến việc xác định đâu là video thật trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. (Nguồn: CNET)

Các công cụ video AI khiến việc xác định đâu là video thật trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. (Nguồn: CNET)

Ra mắt năm 2024 và mới được nâng cấp với phiên bản Sora 2, ứng dụng này có giao diện giống TikTok, nơi mọi video đều do AI tạo ra. Tính năng “cameo” cho phép chèn hình ảnh người thật vào cảnh quay giả lập, tạo ra những video chân thực đến mức đáng sợ.

Chính vì vậy, nhiều chuyên gia lo ngại Sora sẽ khiến deepfake lan rộng, gây nhiễu thông tin và làm mờ ranh giới giữa thật và giả. Người nổi tiếng đặc biệt dễ bị tổn thương, khiến các tổ chức như SAG-AFTRA kêu gọi OpenAI tăng cường bảo vệ.

Việc xác định nội dung AI là thách thức lớn với cả công ty công nghệ, mạng xã hội và người dùng. Nhưng vẫn có cách để nhận biết video được tạo bằng Sora.

Tìm Sora watermark

 Sora Watermark (mũi tên xanh chỉ vào) là dấu hiệu nhận biết video do công cụ nào tạo ra. (Nguồn: CNET)

Sora Watermark (mũi tên xanh chỉ vào) là dấu hiệu nhận biết video do công cụ nào tạo ra. (Nguồn: CNET)

Mỗi video được tạo trên ứng dụng Sora iOS đều có watermark khi tải xuống – logo Sora màu trắng (biểu tượng đám mây) di chuyển quanh các cạnh video, tương tự như watermark của TikTok.

Đây là một cách trực quan để nhận biết nội dung do AI tạo ra. Ví dụ, mô hình Gemini “chuối nano” của Google cũng tự động đóng dấu mờ cho hình ảnh. Tuy nhiên, watermark không phải lúc nào cũng đáng tin cậy. Nếu hình mờ tĩnh, nó có thể bị cắt bỏ dễ dàng. Ngay cả watermark động như của Sora cũng có thể bị xóa bằng các ứng dụng chuyên dụng.

Khi được hỏi về điều này, CEO OpenAI – Sam Altman – cho rằng xã hội cần thích nghi với thực tế rằng bất kỳ ai cũng có thể tạo ra video giả mạo. Trước khi có Sora, chưa từng tồn tại một công cụ phổ biến, dễ tiếp cận và không yêu cầu kỹ năng để tạo ra những video như vậy. Quan điểm của ông cho thấy sự cần thiết phải dựa vào các phương pháp xác minh khác.

Kiểm tra siêu dữ liệu

 Kiểm tra siêu dữ liệu – bước quan trọng giúp xác định video có phải do AI tạo ra, như Sora. (Nguồn: Canto)

Kiểm tra siêu dữ liệu – bước quan trọng giúp xác định video có phải do AI tạo ra, như Sora. (Nguồn: Canto)

Bạn có thể nghĩ rằng việc kiểm tra siêu dữ liệu là quá phức tạp, nhưng thực ra khá đơn giản và rất hiệu quả.

Siêu dữ liệu là tập hợp thông tin tự động gắn vào nội dung khi được tạo ra, như loại máy ảnh, địa điểm, thời gian quay và tên tệp. Dù là nội dung do con người hay AI tạo ra, đều có siêu dữ liệu. Với nội dung AI, siêu dữ liệu thường kèm theo thông tin xác thực nguồn gốc.

OpenAI là thành viên của Liên minh về nguồn gốc và tính xác thực nội dung (C2PA), vì vậy video Sora sẽ chứa siêu dữ liệu C2PA. Bạn có thể kiểm tra bằng công cụ xác minh của sáng kiến xác thực nội dung:

Cách kiểm tra siêu dữ liệu:

Truy cập verify.contentauthenticity.org
Tải lên tệp cần kiểm tra
Nhấn “Mở”
Xem thông tin ở bảng bên phải.

Nếu video do AI tạo ra, phần tóm tắt sẽ ghi rõ điều đó. Khi kiểm tra video Sora, bạn sẽ thấy dòng “do OpenAI phát hành” và thông tin xác nhận video được tạo bằng AI. Tất cả video Sora đều phải có thông tin này để xác minh nguồn gốc.

Anh Quang

Nguồn: https://baomoi.com/cach-nhan-biet-video-that-hay-do-ai-tao-c53587913.epi